GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường THCS Quyết Thắng
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Ai là người đầu tiên

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyến Thị Xinh
Ngày gửi: 08h:43' 20-01-2026
Dung lượng: 271.3 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Nguyến Thị Xinh
Ngày gửi: 08h:43' 20-01-2026
Dung lượng: 271.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Ai là người đầu tiên ...
Nhiều tác giả
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
Ai là người đã phát minh ra dòng điện?
ai là người đã sáng chế ra que diêm?
ai là tác giả của chiếc máy chữ đầu tiên?
ai đã làm ra bơ đầu tiên?
ai đã làm ra giấy?
ai đã làm ra hàn thử biểu?
ai đã làm ra những chiếc kính đầu tiên?
ai đã làm ra nước hoa?
ai đã làm ra quyển từ điển tiếng anh đầu tiên?
ai đã làm ra đôi giày đầu tiên?
ai đã nghĩ ra bảng chữ cái đầu tiên?
ai đã nghĩ ra bút viết?
ai đã nghĩ ra chiếc bút chì đầu tiên?
ai đã nghĩ ra kính hiển vi?
ai đã nghĩ ra la bàn?
ai đã nghĩ ra môn nhẩy dù ?
ai đã nghĩ ra máy ảnh ?
ai đã nghĩ ra những con tem?
ai đã nghĩ ra trò đánh bài?
ai đã nghĩ ra tấm bản đồ đầu tiên?
ai đã phát hiện ra cà phê?
ai đã phát minh ra nguyên tử?
ai đã sáng tạo ra máy bay?
ai đã sáng tạo ra tầu ngầm?
ai đã sáng tạo ra ôtô?
ai đã sáng tạo ra đàn dương cầm?
ai đã tìm ra chất dinamit( thuốc nổ)?
ai đã viết bách khoa toàn thư đầu tiên?
ai đã xây dựng chiếc cầu đầu tiên?
ai đã xây ngọn hải đăng đầu tiên?
Ai là người đã phát minh ra dòng điện?
Con người đã nghiên cứu về điện từ hàng ngàn năm nay, nhưng cho đến
bây giờ chúng ta vẫn chưa biết chính xác thế nào là điện. Người ta cho rằng
điện được cấu tạo từ những phần nhỏ tích điện. Theo lý thuyết này thì điện là
dòng chuyển động của các electron hay các phân tích điện khác.
Từ điện trong tiếng Anh (electricity) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "electron".
Bạn có biết từ này có nghĩa là gì không? Nó có nghĩa là hổ phách. Từ năm
600 trước công nguyên những người Hy Lạp cổ đã biết rằng nếu cọ xát hổ
phách thì nó có thể hút được những mẩu giấy. Cho đến trước năm 1672 cũng
chưa có một tiến bộ nào trong việc nghiên cứu về điện. Vào năm 1672 ông
Otto Fon Gerryk khi để tay bên cạnh quả cầu bằng lưu huỳnh đang quay đã
nhận được sự tích điện lớn hơn. Vào năm 1729 ông Stefan Grey đã tìm ra
rằng có 1 số chất, trong đó có kim loại, có thể dẫn điện. Nhưng chất như vậy
gọi là những chất dẫn điện. Ông ta cũng phát hiện ra rằng những chất khác
như thuỷ tinh, lưu huỳnh, hổ phách và sáp không dẫn điện. Những chất đó
được gọi là những chất cách điện.
Bước tiến tiếp theo trong việc nghiên cứu về dòng điện là vào năm 1733 khi
một người Pháp có tên là Duy Phey tìm ra vật tích điện dương và vật tích
điện âm, mặc dù ông cho rằng đó là 2 loại điện khác nhau. Bedzamin
Franklin là người đầu tiên thử giải thích thế nào là dòng điện. Theo ông tất
cả các chất trong tự nhiên đều có chứa "chất lỏng điện". Khi 2 chất va chạm
vào nhau thì một số "chất lỏng" của chất này sẽ bị lấy sang chất khác. Ngày
nay chúng ta nói "chất lỏng" được cấu tạo từ những điện tử mang điện tích
âm. Bộ môn khoa học nghiên cứu về điện phát triển rầm rộ từ năm 1880 khi
mà Alexandro Volta đã sáng chế ra pin. Phát minh này đã mang đến cho loài
người nguồn năng lượng thường xuyên và kéo theo nó tất cả những phát
minh quan trọng nhất trong lĩnh vực này.
ai là người đã sáng chế ra que diêm?
Ước mơ học cách tạo ra lửa để sưởi ấm và nấu chín thức ăn đã dẫn đến
việc con người làm ra nhiều loại “diêm” khác nhau. Người nguyên thuỷ đánh
ra lửa từ chất Silic và hy vọng rằng nó có thể đốt cháy dược lá khô. Hàng
nghìn năm sau những người La Mã cổ cũng chẳng tiến thêm dược mấy trong
việc tạo ra lửa. Họ đánh hai hòn đá vào nhau và những tia lửa thu được thì cố
gắng đốt cháy những que đóm tẩm lưu huỳnh.
Vào thời trung cổ người ta cố gắng đốt cháy những miếng giẻ khô bằng
những tia lửa thu được bằng cách đánh Silic và sắt. Những chất liệu dễ cháy
này được gọi là các “dây cháy”. Những que diêm hiện đại được làm từ
những que gỗ nhỏ bọc phôtxpho ở đầu. Phôtxpho là chất rất dễ cháy ngay cả
ở nhiệt độ rất thấp. Vào năm 1681 một người Anh tên là Robert Boie đã
nhúng que đóm tẩm lưu huỳnh vào dung dịch lưu huỳnh và phốtxpho và thế
là những que diêm đã ra đời. Tuy nhiên những que diêm này cháy quá nhanh
nên hiệu quả sử dụng không cao. Những que diêm thực sự được làm ở Anh
do bàn tay của người dược sĩ có tên là John Walker. Để đốt những que diêm
này cần phải quẹt chúng vào giữa nếp gấp của tờ giấy mà trên đó đã được rắc
một lớp bột thuỷ tinh . Năm 1833 những que diêm bọc phôtxpho đã ra đời ở
Aó và Đức nhưng có một vấn đề đã nảy sinh vì phôtxpho trắng và vàng rất
độc hại đối với những công nhân sản xuất diêm cho nên năm 1906 đã bị cấm
sản xuất trên toàn thế giới.
Cuối cùng người ta đã tìm ra một loại phôtxpho đỏ không độc để sản xuất ra
những que diêm an toàn hơn. Những que diêm an toàn đầu tiên đã được sản
xuất ở Thuỵ Sỹ vào năm 1844. Giờ đây thay vì bọc lên đầu que diêm tất cả
những chất hoá học cần thiết thì ngày nay người ta bôi phốtxpho đỏ lên bề
mặt của hộp và ta chỉ cần quẹt que diêm vào đó.
Vào thời kì thế chiến lần thứ hai có rất nhiều đoàn quân chinh chiến ở vùng
Thái Bình Dương nơi rất hay có mưa nên những que diêm bình thường tỏ ra
kém hiệu quả. Lúc bấy giờ ông Raimôn Kađi đã làm ra một chất bọc lên
những que diêm để có thể đốt được ngay cả trong trời mưa.
ai là tác giả của chiếc máy chữ đầu tiên?
Máy chữ là một phát kiến rất mới và cho đến bây giờ người ta vẫn không
ngừng hoàn thiện nó. Tuy nhiên bằng phát minh sáng chế ra máy chữ lại
thuộc về người Anh có tên là Henri Mill từ năm 1714 mặc dù chiếc máy chữ
đó chưa được làm một cách hoàn thiện. Những chiếc máy chữ đầu tiên được
sản xuất cho những người mù ở Mỹ, ông William Bert vào năm 1829 đã
được cấp bằng phát minh sáng chế cho chiếc máy chữ đầu tiên, chiếc máy có
tên là “Máy chữ cho người mù”. Ngày nay, những chiếc máy như vậy không
còn tồn tại nữa. Bạn có thể tin chắc rằng đã có rất nhiều nhà phát minh sáng
chế đóng góp sức của mình vào sự phát triển của chiếc máy chữ. Vào năm
1833, một người Pháp có tên là Cksave Progen đã làm ra một chiếc máy chữ
với bàn phím và các đòn bẩy cho từng ký hiệu. Vào năm 1843 ông
Tracterobe, người Mỹ đã làm ra một chiếc máy chữ với các phím ký hiệu
được sắp xếp xung quanh một chiếc vòng bằng đồng có trục ở giữa. Ông ta
dùng tay quay đến chữ cần thiết và phủ mực lên ký hiệu để đánh ra giấy
tuy nhiên nếu sử dụng chiếc máy chữ kiểu này thì rất chậm. Năm 1856 một
chiếc máy chữ kiểu mới đã ra đời với các phím được bố trí theo hình tròn và
mỗi một lần gõ một ký hiệu thì chữ sẽ được đánh vào một điểm ở giữa.
Nguyên tắc hoạt động này đã được sử dụng trong các máy chữ hiện đại.
Chiếc máy chữ đầu tiên được đưa vào sản xuất hàng loạt. Được sáng tạo bởi
ba người Mỹ ông Criptophe Shoilz, Semuen Soil, Carlot Glidden vào năm
1873 ở chiếc máy chữ này có rất nhiều đặc điểm đặc biệt, giấy được đặt vào
một trục tròn bằng cao su có dây mực, có lõi quấn dây đảo chiều dùng cho
băng mực và tay kéo có thể chuyển động được. Ngày hôm nay chúng ta đã
có cả những chiếc máy chữ sách tay, những chiếc máy chữ chạy bằng điện,
tuy nhiên vào những năm gần đây máy chữ đã phải nhường chỗ cho máy
tính.
ai đã làm ra bơ đầu tiên?
Bơ là một trong những loại thực phẩm lâu đời nhất mà con người biết
đến và sử dụng rộng rãi. Có một điều khá ngạc nhiên là thời xa xưa ở một số
nơi trên trái đất người ta không dùng bơ làm thức ăn! Những người Do thái
dùng bơ để làm vật tế thần trong những thủ tục tôn giáo. Những người Hy
lạp và La mã cổ đại dùng bơ để chữa các bệnh về da. Họ còn tin rằng bồ
hóng của bơ đun cháy rất có lợi cho mắt. Ngoài ra người La mã còn dùng bơ
để bôi trơn tóc và da. Tại Tây Ban Nha hơn 300 năm trước đây bơ chỉ được
bán trong các hiệu thuốc. Thời bấy giờ cũng có một số người dùng bơ để nấu
ăn nhưng tuyệt nhiên không có ai ăn bơ sống. Bơ được bảo quản ở dạng
nhuyễn và có cả loại bơ trăm tuổi. Có người cho rằng công nghệ sản xuất bơ
ăn được chuyển từ các nước Xcăn đi navơ sang Châu Âu.
Ngày nay bơ là một thực phẩm vô cùng quan trọng. Bơ là thực phẩm có chứa
hàm lượng đạm cao và cơ thể dễ hấp thụ. Trong thành phần của bơ có nhiều
chất cần thiết giúp nó ở lại lâu trong dạ dày và từ từ cung cấp năng lượng
cho cơ thể.
Công nghiệp sản xuất bơ có từ khi người ta bắt đầu vắt sữa bò. Đầu tiên
người ta hớt lấy lớp váng sữa rồi để ở nhiệt độ phòng cho lên men. Điều này
giúp cho bơ giữ được hương vị và đơn giản hoá quá trình đánh bơ. Tiếp theo
đó là công đoạn thanh lọc để diệt khuẩn giúp bơ có hạn sử dụng lâu hơn.
Bơ được đánh trong máy đánh bơ để tách lấy phần nước trong. Trong nước
sữa này không chứa một chút chất béo nào. Sau đó người ta lại cho tiếp nước
vào và tiếp tục đánh trong máy đánh bơ cho đến khi loại hết các chất không
cần thiết ra để thu được bơ tinh khiết. Sau cùng người ta cho bơ đi qua
những trục quay lớn cho bơ mềm ra và đồng đều nhau về màu và vị rồi đem
đóng gói.
ai đã làm ra giấy?
Bạn hãy lấy một tờ giấy và thử xé nó theo hai chiều ngang và dọc. Bạn
sẽ thấy rằng có một chiều dễ xé hơn, và ở chỗ tờ giấy rách ra bạn sẽ nhìn
thấy những sợi mỏng như tóc. Điều đó nói lên điều gì? Thứ nhất giấy được
sản xuất bằng máy vì nếu không bạn đã có thể xé dễ dàng ở cả hai chiều.
Thứ hai là giấy được cấu tạo từ những hạt xenlulo nhỏ trong lõi của cây.
Trước khi giấy xuất hiện thì con người đã làm ra rất nhiều chất liệu để viết.
4000 năm trước đây những người Ai Cập cổ đã lấy những thân cây tước lấy
phần vỏ và nén cho phẳng để làm giấy viết. Sau này người ta đã đặt chồng
những vỏ cây lên nhau, nén rồi dán chúng lại, sau khi sấy khô có thể dùng để
viết. Nhưng đó vẫn chưa được coi là giấy.
Người đầu tiên làm ra giấy là ông Sai Lun, người Trung Quốc, vào năm 105
ông đã nghĩ ra phương thức làm giấy từ những sợi bên trong của vỏ cây dâu.
Người Trung Quốc đã học cách nghiền nát vỏ cây và nước để tách lấy sợi,
sau đó họ đổ hỗn hợp này ra những khay to trên đó có dặt những ống tre nhỏ,
khi nước chảy hết đi người ta mang các tấm giấy mỏng đi phơi khô trên bề
mặt bằng phẳng. Sau này để nâng cao chất lượng của giấy có người đã nghĩ
ra cách cho thêm tinh bột vào. Những nhà buôn của Trung Quốc đã đi khắp
mọi nơi, lên phương Bắc xuống phương Nam rồi đến thành phố Samarcan. ở
đây người ả Rập đã đánh cắp bí quyết của họ và mang đến Tây Ban Nha, từ
đó nghệ thuật làm giấy lan truyền khắp thế giới. Càng ngày con người càng
tìm ra nhiều phương pháp để sản xuất giấy, người ta làm ra chiếc máy có thể
làm ra những tờ giấy rất dài và rất mỏng ở nước Pháp năm 1798.
ai đã làm ra hàn thử biểu?
Hàn thử biểu được làm ra để xác định nhiệt độ. Nhà khoa học người ý
Galilê đã làm những thí nghiệm về cách đo nhiệt độ vào năm 1592 (100 năm
sau khi Critop Colongbo phát minh ra Châu Mỹ) Galilê đã làm ra vài loại
hàn thử biểu khác nhau, nó được cấu tạo bởi một ống thuỷ tinh và một quả
cầu rỗng chứa đầy không khí. Chúng được đun nóng lên để không khí bên
trong nở ra sau đó nhúng đầu mở kia của ống vào một chất lỏng ví dụ như
nước chẳng hạn. Không khí trong ống co lại vì nước lạnh và chất lỏng tràn
vào ống chiếm chỗ của không khí, sự thay đổi nhiệt độ sẽ dẫn đến sự tăng
giảm của mực chất lỏng trong ống vậy là chiếc nhiệt kế đầu tiên đã ra đời.
Bạn hãy lưu ý rằng nó đã có thể định vị được sự dãn nở của không khí trong
ống tuy nhiên chiếc nhiệt kế này cũng không được chính xác tuyệt đối vì nó
còn chịu sự ảnh hưởng của sự thay đổi áp suất khí quyển. Chiếc nhiệt kế
hiện đại sử dụng sự giãn nở của chất lỏng để đo nhiệt độ, chất lỏng này được
hàn kín trong một quả cầu thuỷ tinh được gắn vào một ống nhỏ khi nhiệt độ
tăng lên sẽ làm chất lỏng dãn ra và dâng lên trong ống, ngược lại khi nhiệt độ
hạn xuống thì chất lỏng co lại và tụt xuống trên chiếc nhiệt kế này có gắn
bảng chia độ giúp chúng ta xác định được nhiệt độ. Chiếc nhiệt kế này lần
đầu tiên được công tước Tôtxcan Phedinan II sử dụng vào năm 1654.
ai đã làm ra những chiếc kính đầu tiên?
Ngày nay hầu hết các chính khách và những người nổi tiếng đều đeo
kính thì phải. Thật thú vị nếu biết được rằng lịch sử sẽ đi theo hướng nào nếu
ngày xưa các bậc vua chúa đều đeo kính (tất nhiên nếu như thật sự họ cần
đến kính). Vì như vậy họ đã có thể nhìn mọi vật, mọi việc tốt hơn và chắc
hẳn đã trị vì các quốc gia tốt hơn!
Không ai biết tên của người làm ra cặp kính đầu tiên. Chỉ biết rằng vào năm
1266 ông Rodger Becon đã dùng chiếc kính lúp để có thể nhìn rõ hơn các
chữ cái trên trang sách. Còn vào năm 1352 trên một bức chân dung người ta
nhìn thấy hồng y giáo chủ Jugon có đeo một đôi kính có hai mắt kính được
buộc vào một cái gọng. Như vậy chúng ta chỉ có thể biết được rằng đôi kính
được làm ra đâu đó giữa năm 1266 và 1352.
Khi những cuốn sánh in ra đời thì những đôi kính cũng trở nên rất cần thiết.
Vào thế kỷ XV những căp kính chủ yếu được sản xuất tại miền bắc nước ý
và miền nam nước Đức, là những nơi tập trung nhiều người thợ giỏi.
Năm 1629 vua Charles I của nước Anh đã ký sắc lệnh thành lập hiệp hội của
các thợ làm kính mắt. Còn vào năm 1784 Bedzamin Franklin đã sáng tạo ra
những đôi kính có hai tiêu điểm.
Ngày nay ngoài việc giúp con người đọc và nhìn tốt hơn , những chiếc kính
còn được sử dụng vào những mục đích khác nhau. Những chiếc kính dâm
giúp chúng ta đỡ chói mắt và cản những tia nắng mặt trời có thể làm hại mắt.
Người ta còn sản xuất những chiếc kính đặc biệt cho những người thợ thổi
thuỷ tinh, những người trượt tuyết, các phi công, các nhà thám hiểm vùng
cực... để bảo vệ mắt khỏi những tia cực tím và tia hồng ngoại. Chúng ta còn
có thể kể ra đây rất nhiều ngành nghề cần có những đôi kính đặc biệt để đảm
bảo sức khoẻ và an toàn lao động.
ai đã làm ra nước hoa?
Có lẽ cùng với sự xuất hiện của sự sống trên trái đất nước hoa đã ra đời.
Từ “nước hoa” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “fumus” có nghĩa là khói. Điều
này làm chúng ta có ý nghĩ phải chăng ngày xưa những người nguyên thuỷ
đã đốt gỗ, nhựa cây và lá cây có mùi thơm để tạo ra nước hoa?
Chúng ta biết rằng người Ai cập cổ đại đã dùng nước hoa từ hơn 5000 năm
trước đây. Nhưng phát minh ra cách chiết xuất tinh dầu từ những cánh hoa
hồng lại thuộc về người ả rập. Đã từ hơn 1300 năm nay tại đất nước của câu
chuyện “Nghìn lẻ một đêm”, tinh dầu hoa hồng không những được dùng làm
mỹ phẩm mà còn để làm thuốc nữa. Cứ nửa hécta hoa hồng sẽ cho ta 1 tấn
cánh hoa, từ một tấn cánh hoa này lại chỉ cho ta vẻn vẹn có 0,5 kg tinh dầu.
Thế mới biết vì sao loại tinh dầu này lại quý hiếm đến vậy.
Ngày xưa để thu được tinh dầu người ta xếp những tấm kính vào những
chiếc khung gỗ. Trên đó đặt một lớp mỡ lợn rồi xếp từng lớp cánh hoa lên
nhau. Người ta thay dần những lớp cánh hoa cho tới khi miếng mỡ hút đủ số
tinh dầu cần thiết.
Ngày nay để chiết xuất ra tinh dầu thay vì mỡ lợn chúng ta dùng một loại
dung dịch được lấy từ dầu lửa. Đổ dung dịch này lên các cánh hoa tươi cho
tới khi thấm hết tinh dầu của cánh hoa. Hỗn hợp thu được đem tách bỏ dung
dịch đầu rồi dùng cồn lọc lấy tinh dầu.
Ngày nay để sản xuất nước hoa người ta còn dùng rất nhiều loại hoa như:
hoa nhài, hoa violet, hoa hoa thuỷ tiên, hoa cam . . .Bạn có biết không thậm
chí gỗ của cây tùng, cây bạch đàn, lá cây bạc hà ,lá cây thiên trúc quỳ và rễ
củ gừng cũng được dùng làm nước hoa đấy.
Hiện nay khoa học đang không ngừng chạy đua với thiên nhiên trong việc
sáng tạo ra nhưng mùi nước hoa mới. Các chuyên gia mỹ phẩm có thể sáng
tạo ra những mùi nước hoa mới lạ và thơm ngát đến nỗi những bông hoa tươi
cũng phải ghen tị vì hương quyến rũ của chúng.
ai đã làm ra quyển từ điển tiếng anh đầu tiên?
Bạn có biết từ điển ra đời khi nào không? Trong tiếng La Tinh có từ
“diccionarius” có nghĩa là “sưu tập các từ”. Một thày giáo người Anh tên lầ
Jonh Garland đã tuyển tập một số từ tiếng La Tinh vào “diccionarius” để bắt
buộc các học sinh của mình phải học thuộc. Đó là vào khoảng năm 1225.
Tên gọi của cuốn từ điển giải nghĩa tiếng Anh cũng bắt nguồn từ
“diccionarius” của tiếng La Tinh. Hơn 300 năm trước trên trái đất chưa hề có
bất kỳ một cuốn từ điển tiếng Anh nào. Phần lớn các từ điển ở nước Anh
được viết ra nhằm giúp đỡ mọi người học tiếng La Tinh. Những quyển từ
điển như vậy thông thường có những cái tên rất giàu hình ảnh như “khu
vườn từ ngữ”. Phải đến năm 1552 thì cuốn từ điển tiếng Anh đầu tiên mới
thực sự ra đời. Tác giả của nó là ông Richard Haloet. Cuốn từ điển này có
các tên La tinh rất dài “Absedarium Anglico - Latinium pro Tirunculus”. Sự
khác biệt của nó so với những cuốn từ điển khác là ở đây người ta giải nghĩa
các từ bằng tiếng Anh rồi sau đó mới dịch san
g tiếng La Tinh. “Absedarium” được coi là quyển từ điển giải nghĩa đầu tiên
của tiếng Anh. Nó gồm 26.000 từ. Lúc bấy giờ ai ai cũng biết dến cuốn từ
điển này tuy giá của nó rất đắt. Để đông đảo nhân dân có thể sử dụng được
người ta đã soạn một cuốn từ điển mới ít từ hơn, dễ hiểu hơn và in với số
lượng lớn, giá thành hạ. Vào thời bấy giờ các tác giả không chủ trương đưa
hết tất cả các từ có trong tiếng Anh vào từ điển mà họ chỉ giải thích nghĩa
của những từ khó nhất . Quyển từ điển giải nghĩa tiếng Anh đầu tiên(có tên
tiếng Anh chứ không phải tên La Tinh) được ra đời vào năm 1623 của tác
giả Henry Cokerem.
Bắt đầu từ năm 1807 ở Mỹ ông N.Webster đã bắt đầu biên soạn một bộ từ
điển đồ sộ gồm 12.000 nghìn từ và 40.000 chú thích và cho tới năm 1828
mới hoàn thành và xuất bản.Trước Webster chưa có ai làm nổi công việc vĩ
đại ấy. Ngoài việc biên soạn ông còn làm thêm một việc nữa là đơn giản hoá
chính tả của một số từ khó. Chính vì vậy mà sau này ta thấy tiếng Anh và
tiếng Mỹ (English và American English) có những điểm khác nhau.
ai đã làm ra đôi giày đầu tiên?
Khi những người nguyên thuỷ phải vượt qua những con đường đầy gai
nhọn và đá cứng thì họ hiểu rằng cần phải kiếm một thứ gì đó để bọc lấy đôi
chân của mình. Có lẽ những đôi giày đầu tiên mà người nguyên thuỷ làm ra
trông giống những đôi dép quai hậu. Chất liệu mà họ dùng để tạo ra những
đôi giày như thế vô cùng đa dạng, từ cỏ, da, hoặc thậm chí cả những miếng
gỗ. Họ buộc chúng vào các ngón chân bằng những sợi dây và vòng qua gót
chân.
ở các vùng giá lạnh , các đôi dép quai hậu mỏng mảnh kia không thể chịu
được rét mướt nên con người đã thêm vào đó những chất liệu khác dầy dặn
và ấm áp hơn để tạo thành những đôi giày.
Người Ai cập cổ đại là những người đầu tiên sử dụng rộng rãi những đôi
giày được làm từ những miếng da hoặc gỗ có dây chằng quanh chân. Để bảo
vệ ngón chân cái những chiếc giày được uốn cong ở phía trước.
Những người La mã còn tiến xa hơn. họ đã làm ra những đôi giày có đục lỗ
ở hai bên để luồn dây qua và buộc lại ở giữa. Những người ở các giai tầng
khác nhau trong xã hội đi những đôi giày khác nhau.
ở những nước có khí hậu lạnh hơn, người ta đã dùng cỏ nhồi vào những
chiếc bao nhỏ có dây thắt lại để làm giày đông.Dần dần những người eskimo
và những thổ dân da đỏ từ những đôi giày thô sơ này đã tạo ra những đôi
giày môca.
Những đôi giày có hình thù hiện đại như ngày nay được tạo bởi bàn tay của
những người lính thập tự. Để bảo vệ đôi chân của mình trong các cuộc trinh
phạt kéo dài đằng đẵng họ đã phải làm ra những đôi giày vừa bền vừa ấm.
Những đôi giày “môđen” lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp, rồi ở Anh, ở ý.
Theo thời gian giày cũng luôn thay đổi mốt. Ví dụ như ở Anh vào thời kỳ trị
vì của vua James I những người thuộc tầng lớp quý tộc đi những đôi giày gót
nhọn, làm từ một loại da mỏng. Đi những đôi giày này thật là bất tiện nhưng
người ta vẫn tiếp tục sử dụng nó trong một thời gian dài. Trước khi có mốt đi
giày cao người Anh đã đi những đôi giày hẹp và có mũi dài rất dài khoảng
12-15cm, và hơi cong lên trên. Còn ở Mỹ nghệ thuật đóng giày bắt đầu xuất
hiện từ năm 1629.
ai đã nghĩ ra bảng chữ cái đầu tiên?
Các chữ trong bảng chữ cái thực ra là kí hiệu của các âm. Các chữ cái
trong bảng chữ cái Tiếng Anh dựa trên bảng chữ cái La Mã đã có từ 2500
năm trước. Các chữ in hoa rất giống với những chữ La Mã được sử dụng vào
thế kỉ 3 trước công nguyên. Trước khi có bảng chữ cái con người thường
dùng cách vẽ để ghi lại những sự vật hoặc truyền thông tin cho nhau, ví dụ
hình một vài con đơn dương có thể hiểu là ở đây có thể đi săn tốt. Loại chữ
viết bằng tranh này đã rất phổ biến ở Babỵlon cổ đại, ở Ai Cập và Trung
Quốc. Dần dần theo thời gian thì loại chữ viết này cũng có nhiều thay đổi.
Trước đây nếu trên bức tranh người ta chỉ vẽ một vật thì bây giờ bức tranh
chuyển tải cả ý tưởng gắn với khách thể đó, ví dụ khi người ta vẽ đôi chân
thì có nghĩa là “đi”. Loại chữ viết này được gọi là loại chữ viết ghi ý. Tuy
nhiên có một số vấn đề nảy sinh đối với loại chữ viết này bởi vì mỗi người
hiểu theo nhiều cách khác nhau dù là cùng một lá thư. Dần dần phương pháp
này được chuyển thành chữ viết theo âm tiết, ví dụ chữ X có nghĩa là cái tay
thì bức tranh vẽ bàn tay sẽ thể hiện cái âm X đó. Cho nên mỗi một lần khi
người ta nó đến âm X thì người ta lại sử dụng bức tranh có vẽ hình cái tay. ở
Babylon và Trung Quốc sự phát triển của chữ viết cũng không vượt qua giới
hạn này. Người Ai Cập tự sáng tạo ra bảng chữ cái của mình gồm 24 kí hiệu
biểu hiện những âm hoặc những từ riêng biệt gồm một phụ âm. Tuy nhiên
lúc bấy giờ họ đã không hiểu được ý nghĩa của phát minh ấy. Gần 3500 năm
trước đây các dân tộc sống ở bờ Đông Địa Trung Hải đã gần như phát minh
ra bảng chữ cái. Họ hiểu rằng một kí hiệu có thể sử dụng để biểu thị một âm
trong tất cả các từ khác nhau, vì vậy họ đã sử dụng một số lượng kí hiệu nhất
định và những kí hiệu ấy đã trở thành bảng chữ cái. Những người Do Thái
cổ và những người Phiniki đã sử dụng bảng chữ cái đầu tiên, sau này những
người Phiniki truyền bảng chữ cái này cho người Hy Lạp. Những ngưòi La
Mã cổ đã tiếp nhận bảng chữ cái Hy Lạp và đưa vào một số sửa đổi, bổ
xung. Từ đó bảng chữ cái La Tinh đã ra đời và được người dân các nước Tây
Âu sử dụng rộng rãi.
ai đã nghĩ ra bút viết?
Chữ viết là một đóng góp của loài người vào sự phát triển của nền văn
minh. Chữ viết giúp chúng ta ghi lại những ý nghĩ và công việc. Trước khi
cây bút ra đời thì con người đã sử dụng rất nhiều thứ khác nhau để viết chữ.
Ví dụ như người nguyên thuỷ đã dùng những hòn đá nhọn đầu để khắc
những hình vẽ lên tường hoặc trong hang động, hoặc nhúng những đầu ngón
tay vào nhựa cây, hay thậm chí vào máu của động vật rồi vẽ lên những bức
tường. Sau này con người đã biết dùng phấn hoặc đất sét để viết. ở Trung
Quốc người ta dùng những chiếc bút lông làm từ lông lạc đà để ghi chép.
Có lẽ những cây bút đầu tiên được làm ở Ai Cập. Những người Ai Cập đã
làm ra cây bút từ những cây sậy rỗng ruột và bọc một miếng
Nhiều tác giả
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
Ai là người đã phát minh ra dòng điện?
ai là người đã sáng chế ra que diêm?
ai là tác giả của chiếc máy chữ đầu tiên?
ai đã làm ra bơ đầu tiên?
ai đã làm ra giấy?
ai đã làm ra hàn thử biểu?
ai đã làm ra những chiếc kính đầu tiên?
ai đã làm ra nước hoa?
ai đã làm ra quyển từ điển tiếng anh đầu tiên?
ai đã làm ra đôi giày đầu tiên?
ai đã nghĩ ra bảng chữ cái đầu tiên?
ai đã nghĩ ra bút viết?
ai đã nghĩ ra chiếc bút chì đầu tiên?
ai đã nghĩ ra kính hiển vi?
ai đã nghĩ ra la bàn?
ai đã nghĩ ra môn nhẩy dù ?
ai đã nghĩ ra máy ảnh ?
ai đã nghĩ ra những con tem?
ai đã nghĩ ra trò đánh bài?
ai đã nghĩ ra tấm bản đồ đầu tiên?
ai đã phát hiện ra cà phê?
ai đã phát minh ra nguyên tử?
ai đã sáng tạo ra máy bay?
ai đã sáng tạo ra tầu ngầm?
ai đã sáng tạo ra ôtô?
ai đã sáng tạo ra đàn dương cầm?
ai đã tìm ra chất dinamit( thuốc nổ)?
ai đã viết bách khoa toàn thư đầu tiên?
ai đã xây dựng chiếc cầu đầu tiên?
ai đã xây ngọn hải đăng đầu tiên?
Ai là người đã phát minh ra dòng điện?
Con người đã nghiên cứu về điện từ hàng ngàn năm nay, nhưng cho đến
bây giờ chúng ta vẫn chưa biết chính xác thế nào là điện. Người ta cho rằng
điện được cấu tạo từ những phần nhỏ tích điện. Theo lý thuyết này thì điện là
dòng chuyển động của các electron hay các phân tích điện khác.
Từ điện trong tiếng Anh (electricity) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "electron".
Bạn có biết từ này có nghĩa là gì không? Nó có nghĩa là hổ phách. Từ năm
600 trước công nguyên những người Hy Lạp cổ đã biết rằng nếu cọ xát hổ
phách thì nó có thể hút được những mẩu giấy. Cho đến trước năm 1672 cũng
chưa có một tiến bộ nào trong việc nghiên cứu về điện. Vào năm 1672 ông
Otto Fon Gerryk khi để tay bên cạnh quả cầu bằng lưu huỳnh đang quay đã
nhận được sự tích điện lớn hơn. Vào năm 1729 ông Stefan Grey đã tìm ra
rằng có 1 số chất, trong đó có kim loại, có thể dẫn điện. Nhưng chất như vậy
gọi là những chất dẫn điện. Ông ta cũng phát hiện ra rằng những chất khác
như thuỷ tinh, lưu huỳnh, hổ phách và sáp không dẫn điện. Những chất đó
được gọi là những chất cách điện.
Bước tiến tiếp theo trong việc nghiên cứu về dòng điện là vào năm 1733 khi
một người Pháp có tên là Duy Phey tìm ra vật tích điện dương và vật tích
điện âm, mặc dù ông cho rằng đó là 2 loại điện khác nhau. Bedzamin
Franklin là người đầu tiên thử giải thích thế nào là dòng điện. Theo ông tất
cả các chất trong tự nhiên đều có chứa "chất lỏng điện". Khi 2 chất va chạm
vào nhau thì một số "chất lỏng" của chất này sẽ bị lấy sang chất khác. Ngày
nay chúng ta nói "chất lỏng" được cấu tạo từ những điện tử mang điện tích
âm. Bộ môn khoa học nghiên cứu về điện phát triển rầm rộ từ năm 1880 khi
mà Alexandro Volta đã sáng chế ra pin. Phát minh này đã mang đến cho loài
người nguồn năng lượng thường xuyên và kéo theo nó tất cả những phát
minh quan trọng nhất trong lĩnh vực này.
ai là người đã sáng chế ra que diêm?
Ước mơ học cách tạo ra lửa để sưởi ấm và nấu chín thức ăn đã dẫn đến
việc con người làm ra nhiều loại “diêm” khác nhau. Người nguyên thuỷ đánh
ra lửa từ chất Silic và hy vọng rằng nó có thể đốt cháy dược lá khô. Hàng
nghìn năm sau những người La Mã cổ cũng chẳng tiến thêm dược mấy trong
việc tạo ra lửa. Họ đánh hai hòn đá vào nhau và những tia lửa thu được thì cố
gắng đốt cháy những que đóm tẩm lưu huỳnh.
Vào thời trung cổ người ta cố gắng đốt cháy những miếng giẻ khô bằng
những tia lửa thu được bằng cách đánh Silic và sắt. Những chất liệu dễ cháy
này được gọi là các “dây cháy”. Những que diêm hiện đại được làm từ
những que gỗ nhỏ bọc phôtxpho ở đầu. Phôtxpho là chất rất dễ cháy ngay cả
ở nhiệt độ rất thấp. Vào năm 1681 một người Anh tên là Robert Boie đã
nhúng que đóm tẩm lưu huỳnh vào dung dịch lưu huỳnh và phốtxpho và thế
là những que diêm đã ra đời. Tuy nhiên những que diêm này cháy quá nhanh
nên hiệu quả sử dụng không cao. Những que diêm thực sự được làm ở Anh
do bàn tay của người dược sĩ có tên là John Walker. Để đốt những que diêm
này cần phải quẹt chúng vào giữa nếp gấp của tờ giấy mà trên đó đã được rắc
một lớp bột thuỷ tinh . Năm 1833 những que diêm bọc phôtxpho đã ra đời ở
Aó và Đức nhưng có một vấn đề đã nảy sinh vì phôtxpho trắng và vàng rất
độc hại đối với những công nhân sản xuất diêm cho nên năm 1906 đã bị cấm
sản xuất trên toàn thế giới.
Cuối cùng người ta đã tìm ra một loại phôtxpho đỏ không độc để sản xuất ra
những que diêm an toàn hơn. Những que diêm an toàn đầu tiên đã được sản
xuất ở Thuỵ Sỹ vào năm 1844. Giờ đây thay vì bọc lên đầu que diêm tất cả
những chất hoá học cần thiết thì ngày nay người ta bôi phốtxpho đỏ lên bề
mặt của hộp và ta chỉ cần quẹt que diêm vào đó.
Vào thời kì thế chiến lần thứ hai có rất nhiều đoàn quân chinh chiến ở vùng
Thái Bình Dương nơi rất hay có mưa nên những que diêm bình thường tỏ ra
kém hiệu quả. Lúc bấy giờ ông Raimôn Kađi đã làm ra một chất bọc lên
những que diêm để có thể đốt được ngay cả trong trời mưa.
ai là tác giả của chiếc máy chữ đầu tiên?
Máy chữ là một phát kiến rất mới và cho đến bây giờ người ta vẫn không
ngừng hoàn thiện nó. Tuy nhiên bằng phát minh sáng chế ra máy chữ lại
thuộc về người Anh có tên là Henri Mill từ năm 1714 mặc dù chiếc máy chữ
đó chưa được làm một cách hoàn thiện. Những chiếc máy chữ đầu tiên được
sản xuất cho những người mù ở Mỹ, ông William Bert vào năm 1829 đã
được cấp bằng phát minh sáng chế cho chiếc máy chữ đầu tiên, chiếc máy có
tên là “Máy chữ cho người mù”. Ngày nay, những chiếc máy như vậy không
còn tồn tại nữa. Bạn có thể tin chắc rằng đã có rất nhiều nhà phát minh sáng
chế đóng góp sức của mình vào sự phát triển của chiếc máy chữ. Vào năm
1833, một người Pháp có tên là Cksave Progen đã làm ra một chiếc máy chữ
với bàn phím và các đòn bẩy cho từng ký hiệu. Vào năm 1843 ông
Tracterobe, người Mỹ đã làm ra một chiếc máy chữ với các phím ký hiệu
được sắp xếp xung quanh một chiếc vòng bằng đồng có trục ở giữa. Ông ta
dùng tay quay đến chữ cần thiết và phủ mực lên ký hiệu để đánh ra giấy
tuy nhiên nếu sử dụng chiếc máy chữ kiểu này thì rất chậm. Năm 1856 một
chiếc máy chữ kiểu mới đã ra đời với các phím được bố trí theo hình tròn và
mỗi một lần gõ một ký hiệu thì chữ sẽ được đánh vào một điểm ở giữa.
Nguyên tắc hoạt động này đã được sử dụng trong các máy chữ hiện đại.
Chiếc máy chữ đầu tiên được đưa vào sản xuất hàng loạt. Được sáng tạo bởi
ba người Mỹ ông Criptophe Shoilz, Semuen Soil, Carlot Glidden vào năm
1873 ở chiếc máy chữ này có rất nhiều đặc điểm đặc biệt, giấy được đặt vào
một trục tròn bằng cao su có dây mực, có lõi quấn dây đảo chiều dùng cho
băng mực và tay kéo có thể chuyển động được. Ngày hôm nay chúng ta đã
có cả những chiếc máy chữ sách tay, những chiếc máy chữ chạy bằng điện,
tuy nhiên vào những năm gần đây máy chữ đã phải nhường chỗ cho máy
tính.
ai đã làm ra bơ đầu tiên?
Bơ là một trong những loại thực phẩm lâu đời nhất mà con người biết
đến và sử dụng rộng rãi. Có một điều khá ngạc nhiên là thời xa xưa ở một số
nơi trên trái đất người ta không dùng bơ làm thức ăn! Những người Do thái
dùng bơ để làm vật tế thần trong những thủ tục tôn giáo. Những người Hy
lạp và La mã cổ đại dùng bơ để chữa các bệnh về da. Họ còn tin rằng bồ
hóng của bơ đun cháy rất có lợi cho mắt. Ngoài ra người La mã còn dùng bơ
để bôi trơn tóc và da. Tại Tây Ban Nha hơn 300 năm trước đây bơ chỉ được
bán trong các hiệu thuốc. Thời bấy giờ cũng có một số người dùng bơ để nấu
ăn nhưng tuyệt nhiên không có ai ăn bơ sống. Bơ được bảo quản ở dạng
nhuyễn và có cả loại bơ trăm tuổi. Có người cho rằng công nghệ sản xuất bơ
ăn được chuyển từ các nước Xcăn đi navơ sang Châu Âu.
Ngày nay bơ là một thực phẩm vô cùng quan trọng. Bơ là thực phẩm có chứa
hàm lượng đạm cao và cơ thể dễ hấp thụ. Trong thành phần của bơ có nhiều
chất cần thiết giúp nó ở lại lâu trong dạ dày và từ từ cung cấp năng lượng
cho cơ thể.
Công nghiệp sản xuất bơ có từ khi người ta bắt đầu vắt sữa bò. Đầu tiên
người ta hớt lấy lớp váng sữa rồi để ở nhiệt độ phòng cho lên men. Điều này
giúp cho bơ giữ được hương vị và đơn giản hoá quá trình đánh bơ. Tiếp theo
đó là công đoạn thanh lọc để diệt khuẩn giúp bơ có hạn sử dụng lâu hơn.
Bơ được đánh trong máy đánh bơ để tách lấy phần nước trong. Trong nước
sữa này không chứa một chút chất béo nào. Sau đó người ta lại cho tiếp nước
vào và tiếp tục đánh trong máy đánh bơ cho đến khi loại hết các chất không
cần thiết ra để thu được bơ tinh khiết. Sau cùng người ta cho bơ đi qua
những trục quay lớn cho bơ mềm ra và đồng đều nhau về màu và vị rồi đem
đóng gói.
ai đã làm ra giấy?
Bạn hãy lấy một tờ giấy và thử xé nó theo hai chiều ngang và dọc. Bạn
sẽ thấy rằng có một chiều dễ xé hơn, và ở chỗ tờ giấy rách ra bạn sẽ nhìn
thấy những sợi mỏng như tóc. Điều đó nói lên điều gì? Thứ nhất giấy được
sản xuất bằng máy vì nếu không bạn đã có thể xé dễ dàng ở cả hai chiều.
Thứ hai là giấy được cấu tạo từ những hạt xenlulo nhỏ trong lõi của cây.
Trước khi giấy xuất hiện thì con người đã làm ra rất nhiều chất liệu để viết.
4000 năm trước đây những người Ai Cập cổ đã lấy những thân cây tước lấy
phần vỏ và nén cho phẳng để làm giấy viết. Sau này người ta đã đặt chồng
những vỏ cây lên nhau, nén rồi dán chúng lại, sau khi sấy khô có thể dùng để
viết. Nhưng đó vẫn chưa được coi là giấy.
Người đầu tiên làm ra giấy là ông Sai Lun, người Trung Quốc, vào năm 105
ông đã nghĩ ra phương thức làm giấy từ những sợi bên trong của vỏ cây dâu.
Người Trung Quốc đã học cách nghiền nát vỏ cây và nước để tách lấy sợi,
sau đó họ đổ hỗn hợp này ra những khay to trên đó có dặt những ống tre nhỏ,
khi nước chảy hết đi người ta mang các tấm giấy mỏng đi phơi khô trên bề
mặt bằng phẳng. Sau này để nâng cao chất lượng của giấy có người đã nghĩ
ra cách cho thêm tinh bột vào. Những nhà buôn của Trung Quốc đã đi khắp
mọi nơi, lên phương Bắc xuống phương Nam rồi đến thành phố Samarcan. ở
đây người ả Rập đã đánh cắp bí quyết của họ và mang đến Tây Ban Nha, từ
đó nghệ thuật làm giấy lan truyền khắp thế giới. Càng ngày con người càng
tìm ra nhiều phương pháp để sản xuất giấy, người ta làm ra chiếc máy có thể
làm ra những tờ giấy rất dài và rất mỏng ở nước Pháp năm 1798.
ai đã làm ra hàn thử biểu?
Hàn thử biểu được làm ra để xác định nhiệt độ. Nhà khoa học người ý
Galilê đã làm những thí nghiệm về cách đo nhiệt độ vào năm 1592 (100 năm
sau khi Critop Colongbo phát minh ra Châu Mỹ) Galilê đã làm ra vài loại
hàn thử biểu khác nhau, nó được cấu tạo bởi một ống thuỷ tinh và một quả
cầu rỗng chứa đầy không khí. Chúng được đun nóng lên để không khí bên
trong nở ra sau đó nhúng đầu mở kia của ống vào một chất lỏng ví dụ như
nước chẳng hạn. Không khí trong ống co lại vì nước lạnh và chất lỏng tràn
vào ống chiếm chỗ của không khí, sự thay đổi nhiệt độ sẽ dẫn đến sự tăng
giảm của mực chất lỏng trong ống vậy là chiếc nhiệt kế đầu tiên đã ra đời.
Bạn hãy lưu ý rằng nó đã có thể định vị được sự dãn nở của không khí trong
ống tuy nhiên chiếc nhiệt kế này cũng không được chính xác tuyệt đối vì nó
còn chịu sự ảnh hưởng của sự thay đổi áp suất khí quyển. Chiếc nhiệt kế
hiện đại sử dụng sự giãn nở của chất lỏng để đo nhiệt độ, chất lỏng này được
hàn kín trong một quả cầu thuỷ tinh được gắn vào một ống nhỏ khi nhiệt độ
tăng lên sẽ làm chất lỏng dãn ra và dâng lên trong ống, ngược lại khi nhiệt độ
hạn xuống thì chất lỏng co lại và tụt xuống trên chiếc nhiệt kế này có gắn
bảng chia độ giúp chúng ta xác định được nhiệt độ. Chiếc nhiệt kế này lần
đầu tiên được công tước Tôtxcan Phedinan II sử dụng vào năm 1654.
ai đã làm ra những chiếc kính đầu tiên?
Ngày nay hầu hết các chính khách và những người nổi tiếng đều đeo
kính thì phải. Thật thú vị nếu biết được rằng lịch sử sẽ đi theo hướng nào nếu
ngày xưa các bậc vua chúa đều đeo kính (tất nhiên nếu như thật sự họ cần
đến kính). Vì như vậy họ đã có thể nhìn mọi vật, mọi việc tốt hơn và chắc
hẳn đã trị vì các quốc gia tốt hơn!
Không ai biết tên của người làm ra cặp kính đầu tiên. Chỉ biết rằng vào năm
1266 ông Rodger Becon đã dùng chiếc kính lúp để có thể nhìn rõ hơn các
chữ cái trên trang sách. Còn vào năm 1352 trên một bức chân dung người ta
nhìn thấy hồng y giáo chủ Jugon có đeo một đôi kính có hai mắt kính được
buộc vào một cái gọng. Như vậy chúng ta chỉ có thể biết được rằng đôi kính
được làm ra đâu đó giữa năm 1266 và 1352.
Khi những cuốn sánh in ra đời thì những đôi kính cũng trở nên rất cần thiết.
Vào thế kỷ XV những căp kính chủ yếu được sản xuất tại miền bắc nước ý
và miền nam nước Đức, là những nơi tập trung nhiều người thợ giỏi.
Năm 1629 vua Charles I của nước Anh đã ký sắc lệnh thành lập hiệp hội của
các thợ làm kính mắt. Còn vào năm 1784 Bedzamin Franklin đã sáng tạo ra
những đôi kính có hai tiêu điểm.
Ngày nay ngoài việc giúp con người đọc và nhìn tốt hơn , những chiếc kính
còn được sử dụng vào những mục đích khác nhau. Những chiếc kính dâm
giúp chúng ta đỡ chói mắt và cản những tia nắng mặt trời có thể làm hại mắt.
Người ta còn sản xuất những chiếc kính đặc biệt cho những người thợ thổi
thuỷ tinh, những người trượt tuyết, các phi công, các nhà thám hiểm vùng
cực... để bảo vệ mắt khỏi những tia cực tím và tia hồng ngoại. Chúng ta còn
có thể kể ra đây rất nhiều ngành nghề cần có những đôi kính đặc biệt để đảm
bảo sức khoẻ và an toàn lao động.
ai đã làm ra nước hoa?
Có lẽ cùng với sự xuất hiện của sự sống trên trái đất nước hoa đã ra đời.
Từ “nước hoa” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “fumus” có nghĩa là khói. Điều
này làm chúng ta có ý nghĩ phải chăng ngày xưa những người nguyên thuỷ
đã đốt gỗ, nhựa cây và lá cây có mùi thơm để tạo ra nước hoa?
Chúng ta biết rằng người Ai cập cổ đại đã dùng nước hoa từ hơn 5000 năm
trước đây. Nhưng phát minh ra cách chiết xuất tinh dầu từ những cánh hoa
hồng lại thuộc về người ả rập. Đã từ hơn 1300 năm nay tại đất nước của câu
chuyện “Nghìn lẻ một đêm”, tinh dầu hoa hồng không những được dùng làm
mỹ phẩm mà còn để làm thuốc nữa. Cứ nửa hécta hoa hồng sẽ cho ta 1 tấn
cánh hoa, từ một tấn cánh hoa này lại chỉ cho ta vẻn vẹn có 0,5 kg tinh dầu.
Thế mới biết vì sao loại tinh dầu này lại quý hiếm đến vậy.
Ngày xưa để thu được tinh dầu người ta xếp những tấm kính vào những
chiếc khung gỗ. Trên đó đặt một lớp mỡ lợn rồi xếp từng lớp cánh hoa lên
nhau. Người ta thay dần những lớp cánh hoa cho tới khi miếng mỡ hút đủ số
tinh dầu cần thiết.
Ngày nay để chiết xuất ra tinh dầu thay vì mỡ lợn chúng ta dùng một loại
dung dịch được lấy từ dầu lửa. Đổ dung dịch này lên các cánh hoa tươi cho
tới khi thấm hết tinh dầu của cánh hoa. Hỗn hợp thu được đem tách bỏ dung
dịch đầu rồi dùng cồn lọc lấy tinh dầu.
Ngày nay để sản xuất nước hoa người ta còn dùng rất nhiều loại hoa như:
hoa nhài, hoa violet, hoa hoa thuỷ tiên, hoa cam . . .Bạn có biết không thậm
chí gỗ của cây tùng, cây bạch đàn, lá cây bạc hà ,lá cây thiên trúc quỳ và rễ
củ gừng cũng được dùng làm nước hoa đấy.
Hiện nay khoa học đang không ngừng chạy đua với thiên nhiên trong việc
sáng tạo ra nhưng mùi nước hoa mới. Các chuyên gia mỹ phẩm có thể sáng
tạo ra những mùi nước hoa mới lạ và thơm ngát đến nỗi những bông hoa tươi
cũng phải ghen tị vì hương quyến rũ của chúng.
ai đã làm ra quyển từ điển tiếng anh đầu tiên?
Bạn có biết từ điển ra đời khi nào không? Trong tiếng La Tinh có từ
“diccionarius” có nghĩa là “sưu tập các từ”. Một thày giáo người Anh tên lầ
Jonh Garland đã tuyển tập một số từ tiếng La Tinh vào “diccionarius” để bắt
buộc các học sinh của mình phải học thuộc. Đó là vào khoảng năm 1225.
Tên gọi của cuốn từ điển giải nghĩa tiếng Anh cũng bắt nguồn từ
“diccionarius” của tiếng La Tinh. Hơn 300 năm trước trên trái đất chưa hề có
bất kỳ một cuốn từ điển tiếng Anh nào. Phần lớn các từ điển ở nước Anh
được viết ra nhằm giúp đỡ mọi người học tiếng La Tinh. Những quyển từ
điển như vậy thông thường có những cái tên rất giàu hình ảnh như “khu
vườn từ ngữ”. Phải đến năm 1552 thì cuốn từ điển tiếng Anh đầu tiên mới
thực sự ra đời. Tác giả của nó là ông Richard Haloet. Cuốn từ điển này có
các tên La tinh rất dài “Absedarium Anglico - Latinium pro Tirunculus”. Sự
khác biệt của nó so với những cuốn từ điển khác là ở đây người ta giải nghĩa
các từ bằng tiếng Anh rồi sau đó mới dịch san
g tiếng La Tinh. “Absedarium” được coi là quyển từ điển giải nghĩa đầu tiên
của tiếng Anh. Nó gồm 26.000 từ. Lúc bấy giờ ai ai cũng biết dến cuốn từ
điển này tuy giá của nó rất đắt. Để đông đảo nhân dân có thể sử dụng được
người ta đã soạn một cuốn từ điển mới ít từ hơn, dễ hiểu hơn và in với số
lượng lớn, giá thành hạ. Vào thời bấy giờ các tác giả không chủ trương đưa
hết tất cả các từ có trong tiếng Anh vào từ điển mà họ chỉ giải thích nghĩa
của những từ khó nhất . Quyển từ điển giải nghĩa tiếng Anh đầu tiên(có tên
tiếng Anh chứ không phải tên La Tinh) được ra đời vào năm 1623 của tác
giả Henry Cokerem.
Bắt đầu từ năm 1807 ở Mỹ ông N.Webster đã bắt đầu biên soạn một bộ từ
điển đồ sộ gồm 12.000 nghìn từ và 40.000 chú thích và cho tới năm 1828
mới hoàn thành và xuất bản.Trước Webster chưa có ai làm nổi công việc vĩ
đại ấy. Ngoài việc biên soạn ông còn làm thêm một việc nữa là đơn giản hoá
chính tả của một số từ khó. Chính vì vậy mà sau này ta thấy tiếng Anh và
tiếng Mỹ (English và American English) có những điểm khác nhau.
ai đã làm ra đôi giày đầu tiên?
Khi những người nguyên thuỷ phải vượt qua những con đường đầy gai
nhọn và đá cứng thì họ hiểu rằng cần phải kiếm một thứ gì đó để bọc lấy đôi
chân của mình. Có lẽ những đôi giày đầu tiên mà người nguyên thuỷ làm ra
trông giống những đôi dép quai hậu. Chất liệu mà họ dùng để tạo ra những
đôi giày như thế vô cùng đa dạng, từ cỏ, da, hoặc thậm chí cả những miếng
gỗ. Họ buộc chúng vào các ngón chân bằng những sợi dây và vòng qua gót
chân.
ở các vùng giá lạnh , các đôi dép quai hậu mỏng mảnh kia không thể chịu
được rét mướt nên con người đã thêm vào đó những chất liệu khác dầy dặn
và ấm áp hơn để tạo thành những đôi giày.
Người Ai cập cổ đại là những người đầu tiên sử dụng rộng rãi những đôi
giày được làm từ những miếng da hoặc gỗ có dây chằng quanh chân. Để bảo
vệ ngón chân cái những chiếc giày được uốn cong ở phía trước.
Những người La mã còn tiến xa hơn. họ đã làm ra những đôi giày có đục lỗ
ở hai bên để luồn dây qua và buộc lại ở giữa. Những người ở các giai tầng
khác nhau trong xã hội đi những đôi giày khác nhau.
ở những nước có khí hậu lạnh hơn, người ta đã dùng cỏ nhồi vào những
chiếc bao nhỏ có dây thắt lại để làm giày đông.Dần dần những người eskimo
và những thổ dân da đỏ từ những đôi giày thô sơ này đã tạo ra những đôi
giày môca.
Những đôi giày có hình thù hiện đại như ngày nay được tạo bởi bàn tay của
những người lính thập tự. Để bảo vệ đôi chân của mình trong các cuộc trinh
phạt kéo dài đằng đẵng họ đã phải làm ra những đôi giày vừa bền vừa ấm.
Những đôi giày “môđen” lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp, rồi ở Anh, ở ý.
Theo thời gian giày cũng luôn thay đổi mốt. Ví dụ như ở Anh vào thời kỳ trị
vì của vua James I những người thuộc tầng lớp quý tộc đi những đôi giày gót
nhọn, làm từ một loại da mỏng. Đi những đôi giày này thật là bất tiện nhưng
người ta vẫn tiếp tục sử dụng nó trong một thời gian dài. Trước khi có mốt đi
giày cao người Anh đã đi những đôi giày hẹp và có mũi dài rất dài khoảng
12-15cm, và hơi cong lên trên. Còn ở Mỹ nghệ thuật đóng giày bắt đầu xuất
hiện từ năm 1629.
ai đã nghĩ ra bảng chữ cái đầu tiên?
Các chữ trong bảng chữ cái thực ra là kí hiệu của các âm. Các chữ cái
trong bảng chữ cái Tiếng Anh dựa trên bảng chữ cái La Mã đã có từ 2500
năm trước. Các chữ in hoa rất giống với những chữ La Mã được sử dụng vào
thế kỉ 3 trước công nguyên. Trước khi có bảng chữ cái con người thường
dùng cách vẽ để ghi lại những sự vật hoặc truyền thông tin cho nhau, ví dụ
hình một vài con đơn dương có thể hiểu là ở đây có thể đi săn tốt. Loại chữ
viết bằng tranh này đã rất phổ biến ở Babỵlon cổ đại, ở Ai Cập và Trung
Quốc. Dần dần theo thời gian thì loại chữ viết này cũng có nhiều thay đổi.
Trước đây nếu trên bức tranh người ta chỉ vẽ một vật thì bây giờ bức tranh
chuyển tải cả ý tưởng gắn với khách thể đó, ví dụ khi người ta vẽ đôi chân
thì có nghĩa là “đi”. Loại chữ viết này được gọi là loại chữ viết ghi ý. Tuy
nhiên có một số vấn đề nảy sinh đối với loại chữ viết này bởi vì mỗi người
hiểu theo nhiều cách khác nhau dù là cùng một lá thư. Dần dần phương pháp
này được chuyển thành chữ viết theo âm tiết, ví dụ chữ X có nghĩa là cái tay
thì bức tranh vẽ bàn tay sẽ thể hiện cái âm X đó. Cho nên mỗi một lần khi
người ta nó đến âm X thì người ta lại sử dụng bức tranh có vẽ hình cái tay. ở
Babylon và Trung Quốc sự phát triển của chữ viết cũng không vượt qua giới
hạn này. Người Ai Cập tự sáng tạo ra bảng chữ cái của mình gồm 24 kí hiệu
biểu hiện những âm hoặc những từ riêng biệt gồm một phụ âm. Tuy nhiên
lúc bấy giờ họ đã không hiểu được ý nghĩa của phát minh ấy. Gần 3500 năm
trước đây các dân tộc sống ở bờ Đông Địa Trung Hải đã gần như phát minh
ra bảng chữ cái. Họ hiểu rằng một kí hiệu có thể sử dụng để biểu thị một âm
trong tất cả các từ khác nhau, vì vậy họ đã sử dụng một số lượng kí hiệu nhất
định và những kí hiệu ấy đã trở thành bảng chữ cái. Những người Do Thái
cổ và những người Phiniki đã sử dụng bảng chữ cái đầu tiên, sau này những
người Phiniki truyền bảng chữ cái này cho người Hy Lạp. Những ngưòi La
Mã cổ đã tiếp nhận bảng chữ cái Hy Lạp và đưa vào một số sửa đổi, bổ
xung. Từ đó bảng chữ cái La Tinh đã ra đời và được người dân các nước Tây
Âu sử dụng rộng rãi.
ai đã nghĩ ra bút viết?
Chữ viết là một đóng góp của loài người vào sự phát triển của nền văn
minh. Chữ viết giúp chúng ta ghi lại những ý nghĩ và công việc. Trước khi
cây bút ra đời thì con người đã sử dụng rất nhiều thứ khác nhau để viết chữ.
Ví dụ như người nguyên thuỷ đã dùng những hòn đá nhọn đầu để khắc
những hình vẽ lên tường hoặc trong hang động, hoặc nhúng những đầu ngón
tay vào nhựa cây, hay thậm chí vào máu của động vật rồi vẽ lên những bức
tường. Sau này con người đã biết dùng phấn hoặc đất sét để viết. ở Trung
Quốc người ta dùng những chiếc bút lông làm từ lông lạc đà để ghi chép.
Có lẽ những cây bút đầu tiên được làm ở Ai Cập. Những người Ai Cập đã
làm ra cây bút từ những cây sậy rỗng ruột và bọc một miếng
 





