BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên thông tin thư viện

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    2.jpg 1.jpg 2.jpg 1.jpg 15.jpg 9.jpg 7.jpg 3.jpg 10.jpg 16.jpg 21.jpg 22.jpg 23.jpg 24.jpg 20.jpg 19.jpg 18.jpg 17.jpg 16.jpg 15.jpg

    💕💕NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 43 NĂM NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/1982 - 20/11/2025💕💕

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường THCS Quyết Thắng

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Cải cách Hồ Quý Li

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 17h:24' 07-04-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 9
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    ebook©vctvegroup
    Scan & Pdf: @Nhantinh, @V/C
    Ocr: @quandeptrai
    Solo text: @Tuyết Nhung
    Đóng gói: @Trúc Quỳnh Đặng
    14/08/2019

    https://thuviensach.vn

    PHAN ĐĂNG THANH - TRƯƠNG THỊ HÒA

    CẢI CÁCH
    HỒ QUÝ LY
    Tái bản có bổ sung

    NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    https://thuviensach.vn

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

      Hồ Quý Ly là một người yêu nước, một vị đại thần, một hoàng đế,
    một nhà cải cách của nước ta vào cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV.
    Công cuộc cải cách của ông mang tính chất toàn diện, triệt để và táo
    bạo, vượt hẳn mọi cuộc cải cách khác dưới thời quân chủ ở Việt Nam.
    Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh vào đầu thế kỷ XV, lòng
    yêu nước nồng nàn và quyết tâm chống xâm lược của Hồ Quý Ly và
    triều đình nhà Hồ đã kiên định dứt khoát ngay từ đầu. Thành nhà Hồ ở
    tỉnh Thanh Hóa ngày nay do Hồ Quý Ly và dân, quân Trần – Hồ khẩn
    trương xây dựng để phòng bị, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.
    Sau hơn 6 thế kỷ tồn tại, đến nay thành cổ này đã trở thành di tích lịch
    sử thế giới, được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
    Hiệp Quốc (United Nations Educational, Scientific and Cultural
    Organization - UNESCO) chuẩn bị thủ tục công nhận.
    Cải cách Hồ Quý Ly do hai tác giả Luật sư Phan Đăng Thanh (Thạc
    sĩ Luật học, Tiến sĩ Sử học) và Luật sư Trương Thị Hòa (Thạc sĩ Luật
    học, Thạc sĩ Sử học) biên soạn. Với mong muốn giúp độc giả hiểu rõ
    về sự nghiệp cải cách của Hồ Quý Ly và giá trị lịch sử của Thành nhà
    Hồ, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Chí Minh xuất bản quyển sách
    Cải cách Hồ Quý Ly. Điều đặc biệt của quyển sách tái bản lần này là
    tác giả có cập nhật thêm loạt bài Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly của tác
    giả Giao Hưởng (đăng báo Thanh Niên từ ngày 10 đến 15- 8-2010).
    Qua đó thấy rõ thêm mọi người dân Việt Nam đời sau đều ngưỡng mộ,
    ghi nhớ công trạng vì nước quên mình của vua Hồ Quý Ly.

    https://thuviensach.vn

    Đây là tài liệu cũ xưa mà mới mẻ, thực sự bổ ích đối với những
    người đang làm công việc nghiên cứu, sinh viên, học sinh và mọi tầng
    lớp nhân dân yêu thích lịch sử nước nhà; để qua đây, mỗi người chúng
    ta đều có thể chiêm nghiệm và hiểu thêm về sự nghiệp vẻ vang của các
    bậc tiền nhân trong công cuộc giữ gìn đất nước, bảo vệ Tổ quốc và
    không ngừng đổi mới, cải tiến cuộc sống của mình.
    Trân trọng giới thiệu quyển sách Cải cách Hồ Quý Ly cùng bạn
    đọc.
    NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP
    THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    https://thuviensach.vn

    LỜI NÓI ĐẦU

      Trong từng thời kỳ lịch sử Việt Nam, những nhà cải cách đã lần
    lượt xuất hiện. Có người trực tiếp nắm giữ quyền điều khiển vận mệnh
    đất nước nên đã có điều kiện thuận tiện để tiến hành công cuộc cải
    cách của mình. Đó là trường hợp Tiết độ sứ Khúc Hạo (907 - 918),
    vua Lê Thánh Tông (1460 -1497), Quang Trung Hoàng đế Nguyễn
    Huệ (1788 - 1792)... Cũng có những nhà chính trị có tư tưởng cải cách
    đem kiến nghị với nhà cầm quyền đương thời, cũng như bôn ba vận
    động, truyền bá quan điểm, tư tưởng của mình trong quần chúng nhân
    dân nhưng vẫn chưa thể tiến hành được công việc cải cách nào, bởi họ
    không có quyền lực nhà nước trong tay. Đó là trường hợp của Chu
    Văn An (1292 - 1370), Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871), Bùi Viện
    (1844 - 1878), Phan Bội Châu (1867 - 1940), Phan Châu Trinh (1872 1926)... Mỗi đề nghị cải cách của họ đưa ra đều nhằm giải quyết
    những ách tắc, mâu thuẫn trong xã hội để đối phó với những khủng
    hoảng trầm trọng của xã hội.
    Trường hợp Hồ Quý Ly thì khác.
    Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV
    ở nước ta. Lúc đầu, với vai trò của một đại thần nhà Trần, ông đã từng
    bước đem tư tưởng của mình ra thực hiện, song vì chưa nắm được
    quyền lực quốc gia trọn vẹn trong tay nên không có đủ điều kiện để
    thực thi cải cách đến nơi đến chốn. Từ đó ông quyết tâm tổ chức, vận
    động chính trị để làm cuộc đảo chính giành lấy chính quyền vào tay
    mình và trực tiếp điều khiển công cuộc cải cách trên cương vị một nhà
    vua, một thái thượng hoàng, người có quyền lực tối cao cả nước...

    https://thuviensach.vn

    Tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly thật toàn diện và táo bạo. Chỉ
    trong khoảng thời gian tương đối ngắn ngủi - hơn 5 năm cuối triều
    Trần và chưa đầy 7 năm dưới triều Hồ - những việc làm thực tế của
    Quý Ly cho thấy ông đã vạch ra và quyết tâm thực hiện cải cách khắp
    mọi lĩnh vực: chính trị, hành chính, quốc phòng, kinh tế, tài chính, tư
    tưởng, văn hóa, giáo dục, xã hội... Thuở ấy, tư tưởng nào của ông cũng
    mới mẻ, hành động nào của ông cũng trọng đại. Song cuối cùng, công
    cuộc cải cách đã thất bại thảm hại: dòng họ bị mất ngôi, dân tộc bị mất
    nước!
    Nhằm rút tỉa những bài học quá khứ, ôn cố tri tân, chúng tôi mạo
    muội cho ra mắt quyển sách này. Vẫn biết từ trước đến nay, Hồ Quý
    Ly cũng như Trần Thủ Độ (1194 - 1264), Mạc Đăng Dung (1483 1541)... đã từng được nhiều thế hệ đời sau phân tích công, tội; xác
    định cho những giá trị khác nhau. Ở đây, chúng tôi cố gắng sưu tầm và
    tập hợp những sử liệu tương đối trung thực, đầy đủ về nhiều mặt, để
    làm sáng tỏ thêm nhân vật Hồ Quý Ly và nhà Hồ.
    Đánh giá đúng đắn một sự kiện lịch sử, một giai đoạn lịch sử là việc
    làm không hề dễ dàng. Đánh giá khách quan một nhân vật lịch sử lại
    là việc làm càng khó khăn, phức tạp. Ước mong của chúng tôi là được
    bạn đọc xa gần nhận xét, phê bình và chỉ bảo cho những thiếu sót để
    tác giả được hiểu biết tường tận, chín chắn thêm, hầu bổ cứu cho nội
    dung quyển sách được tươm tất hơn trong những lần tái bản.
    13-2-1995
    PHAN ĐĂNG THANH
    TRƯƠNG THỊ HÒA

    https://thuviensach.vn

    CHƯƠNG I

    HỒ QUÝ LY: ÔNG LÀ AI?

      Sự xuất hiện nhân vật Hồ Quý Ly và triều Hồ vào những năm cuối
    thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV là một hiện tượng lịch sử đặc biệt. Thời
    gian thực hiện quyền lực của Hồ Quý Ly và giai đoạn trị vì của nhà
    Hồ tuy ngắn ngủi song đã được nhiều người phân tích và đánh giá cao,
    coi ông là một nhà cải cách lớn với những chủ trương toàn diện, táo
    bạo và triệt để. Bên cạnh đó, nhất là trước đây, cũng đã có một luồng
    quan điểm ngược lại. Trước hết người ta cho rằng họ Hồ đã dùng mọi
    thủ đoạn, âm mưu để thoán đoạt ngôi vua của nhà Trần và trong suốt
    thời gian thực hiện quyền lực có được của mình, Hồ Quý Ly đã tỏ ra là
    một nhà chính trị đầy thủ đoạn, một nguyên thủ quốc gia độc tài với
    quá nhiều tham vọng... Đó cũng là nguyên nhân dẫn vương triều Hồ
    đến sụp đổ hoàn toàn, đưa đất nước vào vòng nô lệ phương Bắc suốt
    20 năm sau đó. Chính Hồ Quý Ly là người đã nỗ lực với biết bao công
    sức để xây dựng một quốc gia hùng cường nhưng cuối cùng chính ông
    là người phải chịu hậu quả mất ngôi, mất nước!
    Dù thế nào đi nữa, thực tế cũng đã khẳng định Hồ Quý Ly là một
    nhân vật lịch sử lớn của nước nhà. Hồ Quý Ly và nhà Hồ đã thực sự
    trở thành cột mốc nổi bật trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc
    với những cải cách trọng đại đã được đề ra và thực hiện quyết liệt
    trong suốt thời đại của ông. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam,
    trước và sau Hồ Quý Ly cũng có một vài nhà cải cách nhưng không
    nhà cải cách nào có đường lối toàn diện và triệt để bằng Hồ Quý Ly và

    https://thuviensach.vn

    cũng không có cuộc cải cách nào cuối cùng đi đến kết quả thất bại một
    cách xót xa, thảm hại bằng cải cách Hồ Quý Ly...

    https://thuviensach.vn

    MỤC 1

    KHỦNG HOẢNG TOÀN DIỆN CUỐI
    NHÀ TRẦN

      Cai trị nước ta suốt 174 năm, từ năm 1226 đến 1400, vương triều
    Trần trải qua 12 đời vua. Giai đoạn trị vì của 6 vua đầu nhà Trần(*) kéo
    dài 115 năm là thời kỳ lịch sử lớn, đánh bại 3 lần giặc xâm lược
    Nguyên Mông, góp phần xây dựng nền văn minh rực rỡ của dân tộc:
    văn minh Đại Việt. Tuy nhiên, đến đời vua Dụ Tông (1341 - 1369),
    nhà Trần đã bắt đầu suy vi, kế tục thêm 5 vua nữa(*) trong vòng 30
    năm thì ngôi nhà Trần thực sự chấm dứt. Hai vua Hậu Trần: Giản
    Định Đế (1407 - 1409) và Trùng Quang Đế (1409 - 1413) chỉ là sự nối
    tiếp nhà Trần, với các vua của thời kỳ đất nước đã rơi vào tay giặc
    Minh xâm lược.

    I. MẦM MỐNG SUY SỤP
    Thực ra, ngay từ thời vua Trần Minh Tông, vương triều Trần đã
    bước đến giai đoạn quá độ hưng thịnh đến suy vi. Triều đại vua Minh
    Tông tuy vẫn còn giữ được truyền thống vẻ vang của nhà nước Đông
    A trong việc đối nội, đối ngoại nhưng nó cũng đã bộc lộ hiện tượng
    suy yếu, trong triều đã chia rẽ phe nhóm tranh chấp quyền lực, triệt hạ
    nhau, trật tự xã hội bắt đầu rối ren, nhân tâm có phần xao xuyến... Đại
    Việt sử ký toàn thư chép: “Vua đem văn minh sửa sang đạo trị nước,
    làm rạng rỡ công nghiệp của người xưa, giữ lòng trung hậu, lo nghĩ
    sâu xa, trong yên ngoài phục, kỷ cương đủ bày. Tiếc rằng không nhận

    https://thuviensach.vn

    biết mưu gian của Khắc Chung, để đễn nỗi Quốc Chẩn phải chết, đó là
    chỗ kém thông minh vậy”(*).
    Nguyên năm Mậu Thìn (1328), vua Minh Tông trị vì ở ngôi đã 15
    năm mà vẫn chưa lập được Thái tử. Cha của Hoàng hậu Lệ Thánh là
    Quốc phụ Thượng tể Trần Quốc Chẩn (chú ruột của vua Minh Tông)
    vẫn muốn đợi Hoàng hậu có con rồi sẽ lập Thái tử. Trong khi đó, trong
    triều có một phe khác gồm Thiếu bảo Trần Khắc Chung cùng Cương
    Đông Văn hiến hầu là con (có sách chép là em) của Thái sư Trần Nhật
    Duật, lại muốn đưa ngay Trần Vượng là con của một bà phi họ Lê lên
    làm Thái tử. Quyết tâm triệt hạ Quốc Chẩn, Văn hiến hầu sai người
    đem 100 lạng vàng đến đút lót cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần
    Phẩu, bảo Phẩu vu cáo Quốc Chẩn âm mưu làm phản. Sự việc diễn ra
    đúng như âm mưu của Văn hiến hầu, vua tin là thực, hạ lệnh bắt giam
    Quốc Chẩn, cấm tuyệt không cho ăn uống, bắt phải tự tử. Hoàng hậu
    Lệ Thánh phải lấy áo tẩm nước lén vào nơi giam cho cha uống, uống
    xong thì Quốc Chẩn chết. Sau đó, vua ra lệnh bắt hơn 100 người nghi
    có liên can với Quốc Chẩn... Nhưng vài năm sau, vụ án này được
    minh oan. Vì vợ cả, vợ lẽ của Trần Phẩu ghen nhau nên đem chuyện
    Văn hiến hầu âm mưu cùng Trần Phẩu vu cáo Quốc Chẩn nói ra cho
    mọi người biết. Trần Phẩu bị xử lăng trì nhưng chưa kịp hành hình thì
    gia nô của con của Quốc Chẩn đã giết và ăn hết thịt Phẩu! Văn hiến
    hầu thì bị giáng làm dân thường, bị xóa tên trong sổ hoàng tộc...
    Dù sự kiện diễn ra như vậy, song ngay sau khi Quốc Chẩn chết thì
    Trần Vượng cũng đã được phong làm Đông cung Thái tử, tiếp đến
    được phong Hoàng Thái tử rồi 7 ngày sau, Thái tử Trần Vượng được
    vua Minh Tông truyền ngôi cho, tức vua Trần Hiến Tông. Lúc đó vua
    Hiến Tông mới 10 tuổi, quyền chính vẫn nằm trong tay Thượng hoàng
    Minh Tông.
    Vua Hiến Tông “tư trời tinh anh, sáng suốt” nhưng ở ngôi không
    được lâu, đến năm 22 tuổi thì vua mất (năm Tân Tỵ - 1341). Thực ra
    triều Hiến Tông cũng là triều của Minh Tông, tuy không được hưng

    https://thuviensach.vn

    thịnh như trước, lúc này nhà Trần đã bộc lộ hướng suy sụp ở nhiều
    mặt, nhưng quân đội Đại Việt vẫn còn đủ sức chinh Nam chinh Tây,
    ngán ngừa được ngoại xâm, tình hình đối nội, đối ngoại vẫn tương đối
    ổn định...
    Từ khi vua Hiến Tông mất, nguy cơ đổ nát của nhà Trần đã đến.

    II. CUỘC KHỦNG HOẢNG TOÀN DIỆN
    A. ĐỐI NỘI
    Tháng 6 năm Tân Tỵ (1341), vua Trần Hiến Tông mất. Vì vua Hiến
    Tông không có con nên Thượng hoàng Minh Tông lập người con thứ
    10 của mình là Hoàng tử Trần Hạo (con của vua Minh Tông và bà
    Hiến Từ Hoàng hậu) lên nối ngôi, tức vua Trần Dụ Tông (1341 1369).
    Từ đời vua Dụ Tông, nhà Trần đã bộc lộ suy sụp nhiều mặt, bắt đầu
    trượt nhanh xuống dốc.

    1. Sự suy thoái của tầng lớp cầm quyền
    Cuối nhà Trần, hầu hết các vua đều không xứng đáng. Một số bất tài
    lại thiếu đạo đức. Một số chỉ có hư vị vì nhu nhược hoặc vì còn nhỏ
    tuổi... Chỉ trong vòng hơn 50 năm, nhà Trần đã thay vua đến 7 lần.
    Triều đình chia bè kéo cánh, tranh giành quyền lợi, giết hại lẫn nhau.
    Những kẻ bất tài dua nịnh thì được thăng quan tiến chức, còn người
    trung liệt thì treo ấn từ quan...

    1.1. Những ông vua bất xứng
    a) Vua Dụ Tông trụy lạc, sa đọa: Dụ Tông lên ngôi vào tháng 8
    năm Tân Tỵ (1341), lúc ấy vua mới 6 tuổi. Lúc đầu vì còn Thượng
    hoàng Minh Tông thay Dụ Tông trị nước nên nói chung tình hình
    trong nước chưa xảy ra điều gì quá tồi tệ. Đến tháng 2 năm Đinh Dậu
    (1357), Thượng hoàng Minh Tông qua đời. Năm ấy vua Dụ Tông

    https://thuviensach.vn

    cũng đã trưởng thành, không còn ai kiềm chế, can gián, cũng từ lúc ấy,
    nhà vua bắt đầu “tự do” chìm đắm trong hoan lạc.
    Bản tính vua Dụ Tông là người thích đánh bài, ham mê uống rượu,
    háo sắc... Vua tha hồ rượu chè, trụy lạc, xây cung điện, đào hổ chơi,
    đắp núi giả, biến cung đình thành sòng bạc, quán rượu, yến tiệc linh
    đình suốt ngày đêm...
    Thuở nhỏ, lúc lên 4 tuổi, có lần vua đi chơi thuyền ban đêm ở hồ
    Tây bị ngã xuống nước. Vua được vớt lên và nhờ có lương y Trâu
    Canh dùng phương pháp chữa trị bằng kim châm nên thoát chết nhưng
    lớn lên vua mang chứng bệnh liệt dương. Năm Tân Mão (1351), vua
    được 16 tuổi, Trâu Canh có dâng phương thuốc trị bệnh bằng cách giết
    một đứa bé trai, lấy mật hòa với dương khởi thạch mà uống và thông
    dâm với chị hay em ruột của mình thì sẽ hiệu nghiệm. Vua làm theo,
    thông dâm với chị ruột là Công chúa Thiên Ninh, quả nhiên công
    hiệu(*).
    Suốt ngày vua tổ chức rượu chè, ca hát, chơi bời... Sử chép: “Mùa
    hạ, tháng 4, gọi Chánh chưởng phụng ngự cung Vĩnh An là Bùi Khoan
    cùng uống rượu. Khoan lập mẹo vờ uống hết 100 thăng rượu, được
    thưởng tước 2 tư. Tháng 5, vua đi hóng gió chơi trăng. Vì uống rượu
    quá say, lại lội xuống sông tắm, nên bị ốm”(*). “Rồi năm sau, tháng 6,
    vua ngự thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu úy Trần Ngô Lang ở hương
    Mễ Sở (huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng), đến canh ba mới về. Khi
    tới sông Chử Gia (huyện Châu Giang, Hải Hưng), bị cướp mất ấn báu,
    gươm báu. Vua tự biết mình không sống lâu, càng thả sức chơi bời”(*).
    Tháng giêng năm Nhâm Dần (1362), vua ra lệnh cho các vương
    hầu, công chúa dâng các trò tạp hý, vua đích thân xét duyệt, thấy trò
    nào hay thì ban thưởng. Bên cạnh việc ham chơi đàn hát, vua cũng
    đam mê bài bạc, tổ chức đánh bạc ngay trong cung. “Lại cho gọi các
    nhà giàu trong nước, như ở làng Đình Bảng thuộc Bắc Giang, làng
    Nga Đình thuộc Quốc Oai, vào cung đánh bạc làm vui. Có tiếng bạc
    đặt tới 300 quan tiền, ba tiếng thì đã gần ngàn quan rồi”(*).

    https://thuviensach.vn

    Để phục vụ cho những cuộc vui chơi của mình, vua Dụ Tông sai
    đào hồ ở vườn ngự, chất đá làm núi, bốn mặt khai ngòi cho nước
    thông vào. Sau đó còn đào một hồ nhỏ khác bắt dân Hải Đông chở
    nước mặn về chứa vào hồ để nuôi hải sản (đồi mồi, cua, cá, cá sấu...).
    Nhận xét về vua Dụ Tông, Việt sử thông giám cương mục chép:
    “Nghiện rượu, mê đàn hát, xa xỉ làm cung điện nguy nga và tường
    vách chạm trổ, lãng phí tiền của, hoang dâm chơi bời, món gì Dụ
    Tông cũng mắc! Cơ nghiệp nhà Trần sao khỏi suy được?”(*)
    b) Ngai vàng nhà Trần lọt vào tay một ông vua họ Dương hoang
    dâm vô độ: Năm Kỷ Dậu (1379), Dụ Tông qua đời, không có con.
    Ngày sắp mất, vua xuống chiếu đón người con nuôi của Cung Túc Đại
    vương Dục (anh ruột của vua Dụ Tông, đã chết) là Dương Nhật Lễ
    vào truyền cho nối ngôi. Việc này được bà Hiến Từ Hoàng Thái hậu
    tích cực đồng tình, bảo: “Dục là con đích trưởng mà không được ngôi
    vua, lại sớm lìa đời. Nhật Lễ chẳng phải là con của Dục ư?”(*). Như
    vậy, thực sự đã bỏ tôn thất nhà Trần mà lập vua họ khác!(*)
    Nhật Lễ lên ngôi (từ tháng 6 năm Kỷ Dậu - 1369) cũng là một ông
    vua đam mê tửu sắc, tổ chức yến ẩm linh đình suốt ngày đêm. Sử
    chép: “Nhật Lễ tiếm vị, rượu chè dâm dật, hàng ngày chỉ rong chơi,
    thích các trò hát xướng, muốn đổi lại là họ Dương. Người tôn thất và
    các quan đều thất vọng”(*). Thấy Hiến Từ Hoàng Thái hậu tỏ ý tiếc
    việc đưa mình lên ngôi, Dương Nhật Lễ đã giết bà ở trong cung.
    Bây giờ Cung Định vương Phủ (con của Thượng hoàng Minh Tông
    và Minh Từ Hoàng thái phi) thấy tình hình như vậy nên lo sợ. Trần
    Phủ vốn là người nhu nhược lại không có ý tranh giành ngôi vua nên
    bỏ trốn lên mạn Đà Giang. Mười hôm sau, triều thần họp nhau lại dẫn
    quân về kinh, phế Nhật Lễ, tôn Cung Định vương Phủ lên ngôi.
    Vụ chính biến Dương Nhật Lễ kéo dài 17 tháng, ngôi nhà Trần một
    phen suýt mất về tay họ Dương. Qua đó cũng cho thấy triều Trần đã
    bắt đầu thối nát trầm trọng. Vua Dụ Tông là một vị vua bất xứng, vô

    https://thuviensach.vn

    đạo làm cho triều chính ngửa nghiêng, lòng người ly tán. Anh vua là
    Cung Túc Đại vương Dục mê đào hát, cướp vợ dân...
    c) Vua Nghệ Tông nhu nhược, yếu hèn: Ngày 15 tháng 11 năm Canh
    Tuất (1370), Cung Định vương Phủ - lúc ấy đã 40 tuổi, lên ngôi
    Hoàng đế, tức Trần Nghệ Tông (1370 - 1372). Tuy Nghệ Tông làm
    vua chỉ có 2 năm nhưng ở trên cương vị Thái thượng hoàng suốt cả 3
    đời vua sau, trải qua 22 năm (Nghệ Tông mất vào tháng Chạp năm
    Giáp Tuất - 1394). Trên nguyên tắc, tất cả quyền bính lúc ấy vẫn thuộc
    về Nghệ Tông nhưng thực tế suốt cuộc đời nắm quyền nguyên thủ
    quốc gia, bên cạnh Trần Nghệ Tông còn có sự hiện diện của nhân vật
    Lê Quý Ly. Quý Ly là người được vua Nghệ Tông hết lòng tin dùng,
    Nghệ Tông hay nghe theo lời Quý Ly nên chính Quý Ly mới thật là
    người có vai trò quyết đoán mọi việc chính sự của triều Trần kể từ
    đây...
    Bản chất Nghệ Tông là người nhu nhược, không dám quyết đoán
    việc gì. Ngay từ lúc Nhật Lễ chiếm ngôi, dù thấy họa sắp lây đến với
    mình, ông vẫn dùng dằng, lưỡng lự, đến khi có nhiều người khuyên
    nhủ, thúc giục tới nơi, ông mới chịu lánh thân về mạn Đà Giang... Sau
    đó, triều thần tôn thất cùng nhau khuyên ông về kinh trừ loạn, lúc đầu
    ông cũng nghẹn ngào từ chối, mọi người hai, ba lần mời lên kiệu, sau
    cùng ông mới chịu nghe theo... Thấy thế lực phù trợ của ông mạnh,
    Nhật Lễ mới nghe theo lời Thiếu úy Trần Ngô Lang (đã dự mưu trước
    cùng với phía Nghệ Tông) viết thư tạ tội và ra tận ngoài thành phủ
    phục đón đón vua(*). Trước sự tình ấy, Nghệ Tông cảm động ôm lấy
    Nhật Lễ khóc lóc kể rằng: “Không ngờ sự thể ngày nay đến thế này!”.
    Cung Tuyên vương Trần Kính thấy vậy bực mình, giơ kiếm quát:
    “Nay vâng mệnh trời đánh kẻ có tội. Tên tội nhân kia sao còn được
    nói lôi thôi! Bệ hạ há nên vì lòng nhân từ bịn rịn mà bỏ mất nghĩa lớn
    sao!” Nói xong, Cung Tuyên vương cho lôi Nhật Lễ ra, giam vào một
    nơi. Sau đó cha con Nhật Lễ bị đánh chết(*).

    https://thuviensach.vn

    Sự yếu đuối của Nghệ Tông còn thể hiện nhiều lần khi bị giặc
    Chiêm Thành tấn công, ông lo sợ cho mang tài sản, tiền bạc vào núi
    cất giấu, hễ lần nào giặc kéo quân tới uy hiếp thì bỏ kinh thành mà
    chạy. Tháng 6 năm Quý Hợi (1383), Chiêm Thành vào chiếm đóng
    Quảng Oai. Kinh đô xao xuyến, kinh hãi. Nghệ hoàng sai Nguyễn Đa
    Phương đem quân dựng rào lũy tre bằng gỗ ở kinh thành, ngày đêm
    canh giữ, còn mình thì sửa soạn xa giá để chạy sang lánh giặc ở Đông
    Ngàn. Nguyễn Mộng Hoa là một kẻ sĩ thấy vậy liền chạy đến bên
    sông, mặc cả mũ áo chỉnh tể, nhảy xuống nước lôi kéo thuyền ngự, xin
    Thượng hoàng ở lại đánh giặc nhưng Thượng hoàng cũng không
    nghe... Việc này sử thần Ngô Sĩ Liên đã có nhận xét: “Nghệ Tông
    thiếu can đảm. Giặc chưa tới đã lánh trước, thì người trong nước như
    thế nào? Mộng Hoa là một người học trò, còn biết giữ Nghệ Tông lại,
    những “kẻ ăn thịt” thực đáng khinh thay!(*)
    d) Vua Duệ Tông chủ quan, tự phụ: Trong số các vua Trần mạt, có
    lẽ chỉ Trần Duệ Tông là ông vua có tài cầm binh, cứng cỏi nhưng lại
    quá chủ quan và tự kiêu, tự phụ. Bản tính ấy đã dẫn ông đến thất bại
    mà thất bại đau xót nhất là sự kết liễu cuộc đời ông tại chiến trường
    trên đất nước Chiêm Thành.
    Trần Nghệ Tông làm vua được 2 năm, đến tháng 11 năm Nhâm Tý
    (1372) thì nhường ngôi cho người em cùng cha khác mẹ của mình
    (cũng là anh em bạn dì ruột) là Cung Tuyên vương Trần Kính, tức vua
    Trần Duệ Tông. Trần Kính là người đã có nhiều công bảo vệ Nghệ
    Tông trong lúc lánh nạn và hai năm trước đã phò đưa Nghệ Tông lên
    ngôi vua. Sử cũ nhận xét Trần Duệ Tông như sau: “Vua ương gàn, có
    chấp, không nghe lời can, khinh thường quân giặc nên mang họa vào
    thân chứ không phải là do bất hạnh”(*).
    Trong công cuộc chinh phạt Chiêm Thành năm Đinh Tỵ (1377), vua
    Duệ Tông cầm binh tiến sâu vào đất Chiêm Thành, tới tận kinh thành
    Đồ Bàn (thành Đồ Bàn ngày nay còn di tích ở huyện Tuy Viễn, tỉnh
    Bình Định). Đại tướng Đỗ Lễ can vua: “Nó đã chịu hàng, là muốn bảo

    https://thuviensach.vn

    toàn đất nước làm đầu. Quan quân vào sâu đánh phá thành giặc là việc
    bất đắc dĩ. Xin hãy sai một biện sĩ cầm mảnh thư đến hỏi tội, để xem
    tình hình hư thực của giặc, như kế sách của Hàn Tín phá nước Yên
    ngày trước, không phải khó nhọc mà thành công. Cổ nhân có nói:
    “Lòng giặc khó lường”. Thần xin Bệ hạ hãy xét kỹ lại”(*).
    Vua trách Đỗ Lễ nhút nhát, chê Đỗ Lễ “chính là hạng đàn bà” rồi
    sai lấy áo đàn bà mặc cho Lễ và nói rằng: “Ta mình mặc giáp cứng,
    tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi, vào sâu trong
    đất giặc, không ai dám đương đầu với ta”(*). Trước đó, Ngự sử đại phu
    Trương Đỗ cũng có ý can vua, 3 lần dâng sớ xin vua không nên đích
    thân cẩm quân đánh sâu vào đất Chiêm nhưng vua cũng không nghe
    nên ông treo mũ bỏ đi. Bà từ phi Nguyễn Thị Bích Châu là hậu phi
    được vua yêu quý nhất, cũng dâng sớ khuyên vua nên dùng đức hóa,
    không nên dùng vũ lực với Chiêm Thành nhưng vua không trả lời và
    quyết định bình Chiêm.
    Lọt vào vòng vây của Chế Bồng Nga, Trần Duệ Tông bỏ mạng nơi
    chiến trường, một mặt nào đó nêu được lòng dũng cảm, vì nước quên
    thân của nhà vua nhưng sự thất bại ấy rõ ràng đã xảy ra từ sự quá chủ
    quan, khinh địch mà lẽ ra không đáng có.
    đ) Các ông vua trẻ tuổi, bù nhìn: Đế Hiện, Thuận Tông và Thiếu
    Đế: tháng 5 năm Đinh Tỵ (1377), thấy vua Duệ Tông hy sinh vì nước,
    Thượng hoàng Nghệ Tông lập con trưởng của Duệ Tông là Hiện lên
    làm vua, tức Đế Hiện (Trần Phế Đế). Năm ấy vua mới 16 tuổi. Sử cũ
    nhận xét Đế Hiện rằng: “Vua u mê, nhu nhược, không làm nổi việc gì,
    uy quyền ngày càng về tay kẻ dưới (chỉ Lê Quý Ly), xã tắc lung lay,
    đến thân mình cũng không giữ được”(*).
    Tháng Chạp năm Mậu Thìn (tháng 1-1389), nghe theo lời Quý Ly,
    Nghệ hoàng bắt giam và giáng Đế Hiện xuống làm Linh Đức Đại
    vương. Các tướng chỉ huy các đội quân định đem binh vào phá nhà tù
    cứu vua, nhưng lúc ấy vua Đế Hiện lại viết hai chữ “Giải giáp” đưa

    https://thuviensach.vn

    cho các tướng và bảo họ không được trái ý Thượng hoàng. Lát sau, Đế
    Hiện bị dìu xuống phủ Thái Dương thắt cổ cho chết.
    Lúc Đế Hiện được đưa lên ngôi thì người con út của Thượng hoàng
    Nghệ Tông là Trần Ngung vừa sinh ra. Đến khi Đế Hiện bị phế thì
    người con này được lập lên ngôi, tức vua Trần Thuận Tông, lúc đó vua
    mới 11 tuổi.
    Đầu năm 1389, Thuận Tông vừa lên ngôi thì được Quý Ly gả ngay
    cho người con gái lớn của mình là Thánh Ngâu để làm Hoàng hậu. Từ
    ấy, nhất là sau khi Thượng hoàng Nghệ Tông qua đời (1394) đến suốt
    quãng đời làm vua của mình, Thuận Tông thực sự chỉ là một ông vua
    bù nhìn, dưới quyền người cha vợ đang là Phụ chính Thái sư Lê Quý
    Ly.
    Vai trò của Trần Thuận Tông cũng như con ông sau này - Trần
    Thiếu Đế, lên ngôi năm 1398, lúc mới 3 tuổi, “nhận truyền ngôi mà
    không biết lạy”, mọi việc chính sự đều nằm trong tay ông ngoại là
    Quốc tổ Chương hoàng Lê Quý Ly... Nhưng số phận của vua cha Thuận Tông có phần bi đát hơn vua con, bởi vua cha sau khi mất ngôi
    đã bị bức tử bằng cách thắt cổ cho chết, còn con ông - Thiếu Đế thì vì
    là cháu ngoại của Quý Ly nên không bị giết.

    1.2. Triều đình suy thoái, phân hóa nghiêm trọng
    Kinh nghiệm lịch sử cho thấy đức hạnh của nhà vua như thế nào thì
    đức hạnh của những nhân vật cận thần của vua cũng tương ứng như
    vậy. Bởi, triều đình là bộ máy trước hết để thực hiện những ý đồ của
    vua, thỏa mãn những thị hiếu của vua, đúng như lời Thượng hoàng
    Minh Tông từng nói: “Nếu ta quả là hiền thì những người được ta
    dùng cũng hiền, như Nghiêu, Thuấn đối với Tắc, Khiết, Quỳ Long
    vậy. Nếu ta không hiền thì những kẻ mà ta dùng cũng không hiền, như
    Kiệt, Trụ đối với Phi Liêm, Ác Lai vậy. Đó chính là đồng thanh tương
    ứng, đồng khí tương cầu, cùng loại thì hợp nhau”(*).

    https://thuviensach.vn

    a) Dưới quyền Dụ Tông, trong triều có một đám cận thần phục vụ
    những chuỗi ngày trác táng của vua; dưới quyền đám cận thần này tất
    còn có những tay chân khác nữa. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Dụ
    Tông ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép
    nước”(*). Trâu Canh bày vẽ cho vua những trò dâm dật, Canh lại dâm
    dật với cung phi của vua cũng không phải tội. Bùi Khoan nhờ có tài
    uống rượu hầu vua mà được thưởng tước 2 tư...
    Bọn quyền thần đã lợi dụng sự tối tăm, sa đọa của vua để thi nhau
    rượu chè be bét, làm mưa làm gió trong triều và ức hiếp dân chúng
    ngoài xã hội. Các quan chức đổ xô chiếm hết nguồn sống của dân, gây
    nên một tình thế xã hội vô cùng quẫn bách...
    Trong hoàn cảnh bi đát đó, quan Tư nghiệp Quốc tử giám Chu Văn
    An đã dâng lên vua Dụ Tông Thất trảm sớ để nghị chém 7 tên gian
    thần để chấn chỉnh chính sự. Nhưng vua không nghe nên ông treo mũ
    từ quan, về sống ẩn dật ở núi Chí Linh...
    b) Từ đó, triều đình nhà Trần ngày càng có nhiều biểu hiện suy
    thoái, trong triều có nhiều biến loạn. Các phe cánh mưu hại, đánh giết
    lẫn nhau để giành lấy quyền lực, đặc biệt là sau vụ biến loạn Dương
    Nhật Lễ... Trong lúc đó, có một bà phi đã dâng lên vua Trần Duệ Tông
    tờ sớ để xin chấn chỉnh triều đình. Bài Kế minh thập sách của bà từ
    phi Bích Châu cho thấy sự suy vi của triều đình cần được chấn chỉnh
    ngay, chủ yếu cũng bởi do nhân sự quan lại đương thời quá thối nát,
    bất tài, thất đức mà ra. Bài Kế minh thập sách có đoạn viết:
    “Kính dâng mười chước, mong được một điều.
    Một là bền gốc nước, kẻ bạo trừ, thì dân chúng được yên;
    Hai là giữ nếp xưa, việc phiền bỏ, thì triều cương không rối;
    Ba là nén kẻ lạm quyền để trừ mọt nước;
    Bốn là đuổi bọn nhũng lại để bớt chài dân;
    Năm là xin mở lối nho phong để ngòi lửa đóm được rạng soi
    cùng nhật nguyệt;

    https://thuviensach.vn

    Sáu là xin tìm lời trực gián, để đường ngôn luận được mở rộng
    như cửa thành;
    Bảy là kén quân nên lấy hạng kiện hùng hơn là to vóc dạc;
    Tám là chọn tướng nên tìm người thao lược hơn là bậc thế gia;
    Chín là khí giới cốt sao cho tinh nhuệ, hà tất hoa hòe;
    Mười là trận pháp tập cần phải chỉnh tề, không cần múa nhảy.”(*)
    Bài Kế minh vang lên như một bản cáo trạng hùng hồn nhắm vào
    tình thế suy bại lúc bấy giờ. Nhưng rồi vua ban khen mà không thấy
    thực hiện.
    c) Dưới quyền của Thượng hoàng Nghệ Tông và các vua trẻ tuổi
    hữu danh vô thực, triều đình lại càng chia bè, kết cánh một cách
    nghiêm trọng hơn. Đặc biệt việc phân hóa triều đình vào những năm
    cuối nhà Trần đã không còn là sự tranh chấp phe cánh có tính cách
    riêng tư do quyền lợi vật chất, danh vọng hay do tình cảm cá nhân nữa
    mà đã bộc lộ sự mâu thuẫn gay gắt, đấu tranh quyết liệt giữa các
    khuynh hướng chính trị khác nhau: giữa tầng lớp vương hầu quý tộc
    nhà Trần với tầng lớp quan liêu nho sĩ về quyền lực, giành lấy chỗ
    đứng cao hơn trong bộ máy chính quyền; giữa khuynh hướng bảo thủ
    hết lòng bảo vệ sự tồn tại của vương triều Trần với khuynh hướng cấp
    tiến muốn cải cách có thể tiến tới lật đổ ngai vàng của nhà vua... Cuộc
    đấu tranh quyết liệt ấy được thể hiện công khai qua các vụ triệt hạ,
    thanh toán thẳng tay với nhau bằng bạo lực, có khi âm ỉ ngấm ngầm
    trong dư luận xã hội như nội dung thư của Bùi Mộng Hoa dâng lên
    Thượng hoàng Nghệ Tông đại ý nói: “Thần nghe trẻ con có câu hát
    rằng: “Thâm hiểm thay Thái sư họ Lê”, xem thế, Quý Ly nhất định có
    ý dòm ngó ngôi báu”(*).

    2. Nhân dân thống khổ vì bị thiên tai, địch họa, thuế má
    nặng; giặc giã nổi lên khắp nơi; xã hội phân hóa trầm trọng

    https://thuviensach.vn

    Trong lúc từ vua đến triều đình ngày càng tỏ ra suy thoái, bệ rạc thì
    đời sống dân chúng ngày càng thêm khó khăn, thắc ngặt, đói khổ...

    2.1. Thiên tai
    Trong thế kỷ XIV, nhất là từ năm đời vua Dụ Tông trở về sau, lũ lụt,
    vỡ đê, hạn hán liên tiếp xảy ra.
    Dưới đời các vua Trần mạt, có hơn 11 lần bão lụt, mưa to gió lớn,
    nước dâng cao làm vỡ đê. Cụ thể như các trận lũ lụt vào các năm Mậu
    Tý (1348), Tân Mão (1351), Nhâm Thìn (1352), Ất Mùi (1355), Kỷ
    Hợi (1359), Canh Tý (1360), Kỷ Dậu (1369), Mậu Ngọ (1378), Nhâm
    Tuất (1382), Canh Ngọ (1390), Quý Dậu (1393)... Mỗi trận nước lớn
    tràn ngập làm vỡ đê, lúa thóc bị chìm ngập, nước cuốn trôi cả nhà cửa
    của dân.
    Cùng với những trận lũ lụt cũng xảy ra liên tiếp những vụ hạn hán,
    sâu rầy phá hoại mùa màng, tôm cá bị chết nhiều... Những trận hạn lớn
    xảy ra vào các năm Quý Mùi (1343), Giáp Thân (1344), Ất Dậu
    (1345), Mậu Tý (1348), Ất Mùi (1355), Mậu Tuất (1358), Nhâm Dần
    (1362), Giáp Dẩn (1374), Kỷ Mùi (1379), Quý Dậu (1393)... Có
    những năm vừa mưa to, nước lớn vừa có hạn hán xảy ra (vào các năm
    1348,1355). Nặng nề nhất là vào năm Quý Dậu (1393): tháng 6 hạn
    hán; tháng 7 gió dữ, mưa lớn; tháng 8 động đất, nước to; tháng 9 sâu
    rầy phá hoại mùa màng... Những trận sâu rầy phá hoại lúa nặng nề xảy
    ra vào các năm Giáp Ngọ (1354), Mậu Tuất (1358), Quý Dậu (1393)...
    Những trận động đẩt, lở núi xảy ra vào các năm Ất Mùi (1355), Nhâm
    Dần (1362), Quý Dậu (1393)...

    2.2. Địch họa
    Chiêm Thành tiến hành liên tiếp những cuộc hành quân xâm lược
    nước ta một phần nhằm thực hiện ý đồ chính trị, giành giật đất đai;
    một phần nhằm cướp bóc tài sản, lùa trâu, bắt người đem đi, đốt phá
    nhà cửa, phá hủy hoa màu của dân Việt... Những thảm cảnh ấy nhân
    dân dưới các triều vua cuối đời Trần đã phải gánh chịu.
    https://thuviensach.vn

    Để có đủ binh lính, phu tải khí giới, lương thực cung cấp phục vụ
    các cuộc chiến tranh với Ai Lao và Chiêm Thành, nhà Trần đã tận lực
    huy động nhân lực, tài nguyên, sản vật trong dân, có khi lúc dân đói
    nhà vua vẫn có lệnh thu gom, tích trữ thóc gạo để chuẩn bị chiến tranh
    với Chiêm...

    2.3. Thuế má nặng
    Dưới các triều đại quân chủ ban đầu ở nước ta, vì công nghiệp và
    thương mại chưa phát triển nên nguồn thu thuế để tăng cường công
    quỹ chủ yếu chú trọng vào hai sắc thuế đinh và thuế điền, vì lúc ấy chỉ
    có người và ruộng là hai nguồn tài nguyên cơ bản của đất nước.
    Kinh qua các triều Lý, Trần, đến đời Trần Phế Đế, việc thu thuế
    Nhà nước vẫn căn cứ theo số ruộng sở hữu của mỗi người, đánh lũy
    tiến tăng dần theo diện tích ruộng chứ không chỉ cán cứ vào mỗi đầu
    người để tính thuế đồng loạt như nhau. Đến năm 1378, vì kho tàng
    trống rỗng, Đỗ Tử Bình đã đề nghị vua áp dụng cách đánh thuế dung
    của nhà Đường, mỗi đinh nam mỗi năm phải nộp 3 quan tiền, không
    phân biệt có ruộng đất hay không.
    Sử cũ của nước ta (Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám
    cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử tiêu án...) đều
    nhận xét, theo đề nghị của Đỗ Tử Bình, vua Trần đã tăng thuế nặng
    hơn. Mỗi đinh nam đều phải nộp thuế, trừ binh lính mới được miễn.
    Việc táng thuế, nhất là gặp lúc dân chúng bị mất mùa, đói khổ, đã gây
    nên nhiều mối ác cảm đối với triều đình...

    2.4. Giặc giã, cướp bóc
    Sử thần Phan Phu Tiên đã mô tả tình hình giặc giã lúc này qua Đại
    Việt sử ký toàn thư: “Nhà Trần từ sau khi Dụ Tông hoang d...
     
    Gửi ý kiến

    Nhúng mã HTML