GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường THCS Quyết Thắng
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
cai-vo-han-trong-long-ban-tay

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:31' 05-03-2024
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:31' 05-03-2024
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Vô Tận trong lòng bàn tay
Vietsciences- Đỗ Kim Thêm 27/09/2005
Cảm tưởng về quyển "The Quantum and the Lotus"
Vô Tận trong lòng bàn tay. Từ thuyết Ðại bùng nổ đến Giác ngộ
Nguyên bản Pháp Ngữ:
L'infini dans la paume de la main. Du Big Bang à l'Éveil Tác giả:
Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận Nhà xuất bản: Fayard/Nil, Paris
2000 ISBN 2-84111-174-1.
Bản dịch Anh Ngữ:
The Quantum and the Lotus, A journey to the Frontiers where Science
and Buddhism meet; Publisher Crown Pub, August 2001, 1st Edition ISBN
0-60960-854-1
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
ÐẠI Ý
TÁC GIẢ
NỘI DUNG TÁC PHẨM
Ý KIẾN CỦA NGƯỜI ĐỌC
LỜI NÓI ĐẦU CỦA MATTHIEU RICARD
Chương 1. NƠI GIAO NHAU NHỮNG CON ĐƯỜNG
Chương 2. TỒN TẠI VÀ KHÔNG TỒN TẠI
Chương 3. ĐI TÌM NGƯỜI THỢ ĐỒNG HỒ VĨ ĐẠI
Chương 4. VŨ TRỤ TRONG HẠT CÁT
Chương 5. NHỮNG ẢO ẢNH CỦA HIỆN THỰC
Chương 6. NHƯ MỘT TIA CHỚP GIỮA ĐÁM MÂY MÙA HÈ
Chương 7. MỖI NGƯỜI CÓ MỘT THỰC TẠI RIÊNG
Chương 8. HÀNH ĐỘNG SINH RA TA
Chương 9. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN
Chương 10. HỖN ĐỘN VÀ HÀI HÒA
Chương 11. RANH GIỚI ẢO
Chương 12. ROBOT CÓ NGHĨ RẰNG CHÚNG BIẾT TƯ DUY HAY KHÔNG?
Chương 13. NHƯ NHỮNG CON SÓNG CỦA ĐẠI DƯƠNG
Chương 14. NGỮ PHÁP CỦA VŨ TRỤ
Chương 15. BÍ MẬT CỦA TOÁN HỌC
Chương 16. LÝ TRÍ VÀ CHIÊM NGHIỆM
Chương 17. NHỮNG PHẢN CHIẾU TRONG GƯƠNG
Chương 18. VẺ ĐẸP NẰM TRONG MẮT NGƯỜI NGẮM
Chương 19. TỪ THIỀN ĐỊNH ĐẾN HÀNH ĐỘNG
KẾT LUẬN CỦA NHÀ SƯ
KẾT LUẬN CỦA NHÀ KHOA HỌC
THUẬT NGỮ KHOA HỌC
THUẬT NGỮ PHẬT GIÁO
o0o
ÐẠI Ý
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Sự dị biệt giữa tôn giáo và khoa học được đánh dấu khởi đầu từ luận đề
của Galilée và từ đó đã khiến nhiều người cho là hai thế giới này không thể
nào gặp nhau được. Einstein khi đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác
đã cho là: nếu có một tôn giáo có thể đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi
của khoa học, thì chính đó là Phật giáo. Einstein muốn nói tới tính cách
thuần lý và thực tiển của Phật Giáo, khi ông so sánh thấy các tôn giáo khác
chỉ dựa trên kinh điển và giáo điều.
Ðúng như điều Einstein cảm nhận, Phật giáo là một tôn giáo có thể đối
thoại với khoa học, cả hai không những không đối kháng mà còn bổ khuyết
cho nhau trong việc tìm hiểu khoa học hiện đại và đời sống tinh thần của
từng cá nhân cũng như trong nỗ lực chế ngự thiên nhiên và kềm chế bản
ngã để tìm đường thoát khổ. Ðó là nội dung chính của cuốn sách sẽ được
giới thiệu sau đây. Tác phẩm này là một công trình đáng kể nhằm đóng góp
vào sự tìm hiểu tương quan giữa Khoa học hiện đại và Phật giáo và được
hình thành trong khuôn khổ một cuộc hội thảo tại Ðại Học Andorre, Pháp,
giữa một Phật tử người Việt đã trở thành nhà Khoa học và một nhà Sinh học
người Pháp đã trở thành tu sĩ Phật giáo.
TÁC GIẢ
Ông Trịnh Xuân Thuận, giáo sư Ðại học Virginia Hoa kỳ ngành Vật lý
thiên thể (Astrophysique), cũng là một người theo đạo Phật. Với hai tác
phẩm khoa học là La Mélodie secrète và Le Chaos et l'Harmonie(nxb
Fayard 1988 và 1998) ông là một tác giả nổi danh. (1)
Ông Matthieu Ricard, Tiến sĩ Sinh học (Biologie), ngườì Pháp. Sau
nhiều năm làm việc về Di truyền học tại Institut Pasteur, Paris, ông đã để
tâm nghiên cứu Phật giáo và quyết định thoát tục, trở thành một tu sĩ Phật
giáo. Ông hiện tu tập tại một thiền viện ở Schechen, gần Katmandou, Népal.
Ông cũng là một tác giả nổi tiếng tại Pháp với tác phẩm Le Moine et le
philosophe (Matthieu Ricard/Jean-François Revel , nxb NiL 1997) và nhiều
tác phẩm khác.
NỘI DUNG TÁC PHẨM
Sách gồm có 19 chương, phần nhập đề, hai kết luận của hai tác giả,
phần chú thích, hai phần chú giải thuật ngữ Khoa học và Phật học và lời
cám ơn các cộng tác viên.
Chương 1:
Ðối thoại mở đầu nhằm xác định khảo hướng khác nhau của hai lãnh
vực khoa học và Phật giáo. Khoa học thì nhằm tìm hiểu những bí ẩn của
cuộc đời và chinh phục thiên nhiên, trong khi Phật giáo nhắm hướng giải
thoát con người ra khỏi những đau khổ bằng cách tìm hiểu bản chất chân
thực của đời sống tinh thần và khuyến khích việc tu tập và thực hiện lòng từ
bi. Ðạo đức Phật giáo cũng đóng góp không những hữu ích trong nghiên
cứu khoa học mà còn trong đời sống cá nhân của nhà nghiên cứu. Công
trình nghiên cứu phải nhằm các công ich chung hơn là theo đuổi những tư
lợi cá nhân, mà đạo đức cá nhân của nhà khoa học cũng không kém phần
quan trọng. Những tính tình cá nhân của Newton, Philipp Lenard và
Johannes Stark được nêu lên như những trường hợp xấu điển hình. Lòng
quả cảm của Einstein trong việc phản đối chế độ Ðức Quốc Xã, chống thả
bom nguyên tử và chế độ phân biệt chủng tộc được ca ngợi về mặt công ích,
trong khi đời sống cá nhân của ông cũng có đôi điều đáng nói. Công trình
nghiên cứu Hisato Yoshimura đóng góp về lãnh vực khoa học môi trường,
tuy được nhiều giải thương cao quý của Nhật, nhưng phương cách thử
nghiệm của ông được coi là vô nhân đạo. Tính vị tha và lòng trách nhiệm
trong Phật giáo cũng là một định hướng cần thiết cho khoa học hìện đại: các
công trình nghiên cứu và các thành quả khoa học không nên gây đau khổ
cho tha nhân. Nhưng điều này thật ra quá khó khăn cho người nghiên cứu,
ai có ngờ lý thuyết tương đối của Einstein lại áp dụng vào việc chế bom
nguyên tử để tàn sát dân Nhật tại Hiroshima và Nagasaki. Mục tiêu của đạo
đức không phải là kềm hãm lại các nghiên cứu khoa học, mà làm sao nêu
lên được đức tính vị tha trong Phật giáo để làm nền tảng cho mọi hoạt động
khoa học. Một thí dụ mới mẻ khác được nêu lên là việc lai tạo vô tính (le
clonage). Nhiều tôn giáo khác đã phản đối việc nghiên cứu này chỉ vì lý do
đơn giản hơn: giá trị thiêng liêng của Ðấng Sáng Thế không còn nữa. Trong
khi đó thì vấn đề này được Phật giáo nhìn dưới một khía cạnh phóng
khoáng, it giáo điều hơn, bởi vì trong Phật giáo không có vấn đề Ðấng Sáng
Tạo. Theo tác giả, cũng nên chấp nhận việc lai tạo vô tính, khi nó nhằm
muc tiêu trị liệu y khoa và làm giảm đi những đau khổ của con người. Ở
cuối chương sách có đặt vấn đề nên cải thiện cá nhân trong đời sống đạo
đức hàng ngày, hơn là âu lo đến các căn nguyên của vũ trụ hay cấu tạo vật
chất. Sự tìm hiểu về ngoại giới cũng chỉ là phương tiện giúp đỡ đưa đến sự
giác ngộ và giải thoát cá nhân mà thôi. Tất cả suy luận của Phật tử đều phảì
dựa trên sự quan sát thực tai và những kinh nghiệm cá nhân, trực tiếp: vấn
đề không phải tin một cách giáo điều mà cần có một nhận thức làm khởi
điểm cho niềm tin.
Chương 2 đặt vấn đề có hay không sự khai nguyên vũ trụ. Ðây là một
bận tâm lớn cho các khoa học và các tôn giáo. Sự hình thành và tiến hóa
của vũ trụ được giải thích qua lý thuyết Ðại bùng nổ (Big Bang). Theo cách
nhìn của các nhà khoa học thì vũ trụ trước tiên được bùng nổ cách đây 15 tỷ
năm, từ trong phân tử ở trạng thái cực nhỏ, nóng và dày bị dồn nén. Dần dà
qua thời gian vũ trụ được bành trướng, liên tục tan loãng và đông lạnh.
Trong khi đó căn nguyên của vũ trụ không là một đề tài lớn trong Phật giáo.
Ðiểm chủ yếu người học đạo Phật nên chuyên tâm là tìm hiểu thực tế về
những gì đã và sẽ đến trong cuộc sống để từ đó tìm ra một chân lý tốí hậu
cho đời sống cá nhân mình. Nỗ lực tìm kiếm này không liên hệ đến sự khai
sinh hay tận thế cũa vũ trụ. Sự tương phản này nêu lên được tính cách hư ảo
của thế giớí hiện tượng theo cách nhìn của Phật giáo. Những tư tưởng chính
về triết học Tính Không và trạng thái vô thủy vô chung của vũ trụ được giải
thích. Theo đó thì những ý niệm về khai nguyên và tận thế của vũ trụ là
những vấn đề thuộc về chân lý tương đối mà thôi. Trong khi ta đi tìm kiếm
giá trị tuyệt đối, thì vấn đề này không còn có ý nghĩa gì. Một điểm dị biệt
được nêu lên là: khi nhà khoa học đề cập tới vũ trụ, phải được hiểu đây là
một thực tại khách quan, độc lập vơí ý thức, trong khi đó Phật giáo không
nhìn vũ trụ như một thành phần hoàn toàn độc lập vớ ý thức, mà đặt mối
liên hệ này vòng luân hồi liên tục.
Chương 3 đề cập tới vấn đề có một nguyên lý tổ chức cho vũ trụ hay
không. Câu hỏi là vũ trụ hoàn toàn vô nghĩa hay là trật tự của nó được sắp
xếp một cách tuyệt hảo bởi một bàn tay vô hình nào đó, nhờ đó mà đời sống
và ý thức mới có được.Theo quan điểm cùa Phật giáo thì vũ trụ là một luận
điểm siêu hình và lý thuyết Ðại bùng nổ chỉ giải thích được một giai đoạn
trong một quá trình liên tục của vũ trụ. Thế giới hiện tượng và ý thức cộng
sinh nhau và cũng không loại trừ nhau trong thời gian theo nguyên lý vô
thủy vô chung. Chính vì thế mà vấn đề tìm ra lời giải thích cho sự dung hợp
này không là điều không cần thiết. Vấn đề toàn năng và toàn trí của Thượng
Ðế trong việc sáng lập vũ trụ được hai tác giả thảo luận. Lập luận tin có
Ðấng Sáng Tạo thế gian rất đơn giản: vũ trụ cũng như một cái đồng hồ.
Ðồng hồ chỉ là công trình của người thợ làm đồng hồ, các bộ phận của đồng
hồ tự nó không trờ thành đồng hồ được. Lập luận khoa học ngược lại đặt
vấn đề sự tạo lập thế gian cùa Thượng Ðế nằm trong quy luật của thời gian
hay ngoài thời gian. Ðiều quan trọng là thời gian thì tương đối, như Einstein
đã tìm thấy. Như vậy Thương Ðế cũng phải chịu chi phối bởi quy luật thởi
gian. Ðiều này có nghĩa là Thượng đế không còn toàn năng nữa. Nếu cho
rằng Thượng Ðế ở ngoài thời gian thì Thượng Ðế cũng sẽ không còn cứu
rỗi được chúng ta bới vì hành vi của chúng ta bị hạn chế trong thời gian. Lý
thuyết của Spinoza cũng được đề cập đến: nguyên tắc tạo lập vũ trụ chỉ chi
phối ở giai đoạn phôi thai và Ðấng Sáng Thế cũng không thể được nhân
cách hoá. Vấn đề đặt ra ở cuối chương sách là làm sao Phật giáo có thể
dung hòa với các tôn giáo khác, khi Phật giáo coi Ðấng Sáng Thế là một ý
niệm siêu hình. Tuy Phật giáo không chia sẻ những ý niệm này, nhưng luôn
tôn trọng những giáo lý của các tôn giáo khác. Phật giáo cũng không mơ
ước trộn lẫn các ý niệm của các tôn giáo khác nhau để mơ lập thành một tôn
giáo đại đồng. Nếu như trong thực tế đời sống hằng ngày ai cũng đều mong
tìm cho mình một thức ăn thich hợp khẩu vị cho cơ thể thì người ta cũng
nên tìm tương tự như vậy cho đời sống tâm linh. Ðiều quan trọng là làm sao
người ta tu tập để hướng thượng và trở thành những người lương thiện và
đầy tính từ bi.
Câu hỏi trong Chương 4 là sự tương thuộc và tổng thể của thế giới hiện
tượng, cụ thể là các vật chất trong thế giới hiện tượng được hình thành hoàn
toàn độc lập hay là liên kết và tương thuộc nhau trong một tổng thể. Theo
Phật giáo, sự hình thành thế giới hiện tượng không bắt nguồn từ những
nguyên nhân độc lập và những hoàn cảnh chuyên biệt. Sự cảm nhận này là
một sai lầm. Kinh nghiệm thực tế của đời sống hằng ngày cho thấy vật chất
là những thực tại độc lập khách quan, mỗi vật chất đều có một thực thể nội
tại của nó. Nhưng đây là một cách nhìn quá đơn giản, mà không thấy được
mối liên hệ nhân quả trong thế giới hiện tượng một cách tổng thể. Tất cả
mọi yếu tố đều tương thuộc lẫn nhau, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này
diệt thì cái kia sẽ diệt. Ý niệm tương thuộc này liên hệ đến triết học Tính
Không trong Phật giáo. Cũng xin đừng hiểu Tính Không là hoàn toàn phủ
nhận thế giới hiện tượng hay chỉ là hư vô chù nghĩa cùa Tây phương. Phật
giáo nhìn thế giới hiện tượng như là sự diễn biến tương thuộc nhau và liên
tục theo mối liên hệ nhân quả. Vấn đề tương thuộc này trong khoa học cũng
được giải thích qua các luận thuyết của Einstein, Podolsky và Rosen (EPR),
1935. Những thí nghiệm của John Bell năm 1964 và gần đây của Nicolas
Gisin năm 1998 về chức năng của quang tử đã soi sáng thêm vấn đề. Thí
nghiệm về quả lắc của Foucault từ 1851 cũng đã đưa ra một ý niệm quan
trọng: tất cả những gì xảy và diễn ra ở đây và hôm nay đều tùy thuộc vào
toàn thể vũ trụ. Nguyên lý của Mach cũng bổ túc thêm là: khối lượng của
một vật thể bắt nguồn từ những ảnh hưởng của vũ trụ. Hai khảo hướng khác
nhau cùng đi chung một kết luận: sự tương thuộc lẫn nhau giữa con người
và vũ trụ trong thế giới hiện tượng. Từ đó con người có một nhận thức mới,
đó là ý thức về trách nhiệm đại đồng trưóc mối liên hệ này. Có ý thức này
thì con ngưới mới dẹp bỏ lòng ích kỷ, hưóng về tha nhân cùng xây đắp một
hạnh phúc chung và đặt biệt là không gây đau khổ cho kẻ khác, thực hiện từ
bi. Ðó là một chuyển hoá nội tâm đưa lần đến giác ngộ. Vũ trụ quan này
đuợc diễn đạt qua lời thơ của William Blake dùng làm tựa đề cho tác phẩm
như sau:
Voir un univers dans un grain de sable
Et un paradis dans une fleur sauvage
Tenir l'infini dans dans la paume de la main
Et l'éternité dans une heure
Dich xuôi:
Nhìn vũ trụ trong một hạt cát
Và thiên đàng trong một cành hoa hoang dại
Nẳm giữ vô tận trong lòng bàn tay
Và vĩnh cửu trong phút giây
Dịch thơ:
Trong hạt cát ta ngắm nhìn vũ trụ
Nhìn thiên đàng giữa hoa dại hoang sơ
Ôi thiên thu lắng đọng chỉ một giờ
Giữ vô tận trong bàn tay bé nhỏ
(Bản dịch thơ của Lê Cao Bằng Calgary, Canada)
Chủ đề của Chương 5 là tìm ra lời giải thích cho sự hiện hữu của các
phần từ sơ đẳng (les particules élémentaires) trong Phật giáo và Khoa học.
Phật giáo cũng quan tâm tới vấn đề khoa học này nhưng những lời giải
thích hầu như không gây được những hậu quả sâu xa. Khi tìm hiểu về
những thực tại hay hư ảo của cuộc đời vây quanh, vấn đề là phải làm sáng
tỏ đâu là bản chất của những gì đã cấu tạo nên những viên gạch nền móng
này. Ðể giải thích về tính cách tổng thể của thế giới hiện tượng một thí dụ
được nêu lên: bản chất của ánh sáng. Nguyên tắc bổ sung (principe de
complémentarité) của Niels Bohr được giải thích: ánh sáng vừa là làn sóng
và vừa là phân tử. Ánh sáng không thể nào có một thực tại nội tại tuyệt đối
hoặc là phân tử hoặc là làn sóng. Ðiều này tùy thuộc vào môi trường và
phương thức thử nghiệm. Ðó cũng là ý niệm chính trong nguyên tắc bất
định (principe d'incertitude) của Heisenberg. Khi nghiên cứu về điện tử
(electron), thì ông cho rằng không thể nào xác định tuyệt đối được vị trí và
tốc độ của điện tử. Những thành quả nghiên cứu của trường phái
Copenhague được tóm lược qua kết luận: những nguyên tử tạo nên một thế
giới của những tiềm năng hay những khả năng hơn là những thế giới của
vật chất và những sự kiện. Ý niệm về nguyên tử được vay mượn để giải
thích vể thế giới hiện tượng. Bohr cũng xác nhận sự khó khăn khi làm sao
vượt qua được những sự kiện và những kết quả thử nghiệm: sự mô tả của
chúng ta không nhằm soi sáng những đặc điểm thực tế của hiện tượng, mà
phải tìm ra những tương quan của các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống
của chúng ta càng nhiều càng tốt. Những lập luận của Jacob, Schrödinger,
Einstein và Stapp được giới thiệu, nhưng quan trọng nhất là của Nottale.
Nottale xác nhận là Phật giáo từ 2500 năm trước đã tìm thấy sự hiện hữu
của vật chất là tương đối, vấn đề là làm sao tìm ra những mối quan hệ trong
thế giới này.
Chương 6 đề cập tính cách vô thường trong thế giới hiện tượng. Ðây
không chỉ là một đề tàì để trầm tư mặc tưởng mà còn là một động lực giúp
chúng ta sử dụng thời gian còn lại của đời mình hữu ích hơn. Sự tìm hiểu
của chúng ta về thực tại tùy thuộc vào viễn kiến về thế giới và thái độ của
chúng ta. Câu hỏi đặt ra: có hay không những thực thể thường hằng (les
entités permanentes) trong vũ trụ? Nếu không có gì vĩnh cửu tại sao chúng
ta lại có thể gọi những sự vật có một đời sống cố hữu (une existence
intrinsèque)? Những ý niệm vô thường trong đời sống được đề cập. Sự thay
đổi này được thể hiện qua quy luật sanh lão bệnh tử, trong thay đổi của cảm
xúc. Ðìểm tinh tế nhất phải nhận ra là trong từng phút giây của đời sống
cũng có sự thay đổi. Những biến dạng của những phân tử và về cách nhận
dạng các phân tử này qua cách sử dụng 18 loại quarks khác nhau được giải
thích. Lý thuyết tiêu chuấn (theorie standard) nhằm chứng minh tính cách
bất tử của các phân tử, đặc biệt là dương tử (proton) được đề cập. Tính bất
tử này phải hiểu khi so sánh với đời sống của con người, nhưng nó có thể
biến dạng qua thời gian. Trong nỗ lực tìm ra một sự mô tả mới về những
hiện tượng của vũ trụ thuyết siêu lực (théorie de superforce) được giải
thích. Ðây là một tổng hợp các giả thuyết trước đây. Theo đó thì những
phân tử không phải là những phần tử sơ đẳng, mà chính là những chấn động
trên những sợi dây được gọi là supercorde. Chính năng lượng của những
chấn động này mới xác định được khối lượng của những phân tử. Ðây còn
là một luận điểm mơ hồ, cần được kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Chương 7 đề cập tới vấn đề làm sao ta có thể hiểu thực tại của thế giới
hiện tượng, khi nó được che đậy bởi những lớp màn chắn bên ngoài. Ðối
với khoa học thì vấn đề này được nhận chân bằng giả thuyết và thử
nghiệm.Thật ra có ít nhà khoa học quan tâm sâu xa đến những nền tảng triết
lý cùa những công trình mà họ đang theo đuổi. Những áp dụng thực tìễn
trong đời sống về những thành tựu của lãnh vực cơ học lượng tử (la
mécanique quantique) đã cho thấy vấn đề này. Chính d'Espagnat cũng xác
nhận là khoa học có thể mô tả được những thực tại được thử nghiệm. Kết
quả này cũng chỉ là những khái luận về một thực tại độc lập không ghi lại
được trong không và thời gian. Một đặc điểm khác: đối tuợng quan sát hoàn
toàn lệ thuộc vào vị trí và thái độ của nhà quan sát, điển hình là sự quan sát
cầu vòng. Cầu vòng là một hình ảnh mà Phật giáo hay dùng đến để diễn tả
tính cách hư thực và tương thuộc của thế giới hiện tượng. Ai cũng thấy cầu
vòng chiếu sáng nhưng không ai có thể bắt lấy được, nên nó vừa là hư vừa
là thực. Cầu vòng chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên của hai yếu tố: lớp màn
mưa và ánh sáng mặt trời, nếu thiếu một, thì cầu vòng sẽ biến mất, nên nó
tương thuộc. Vấn đề nhận chân ra thế giới hiện tượng có hai khía cạnh: bản
chất tối hậu của hiện tượng và phương cách mà chúng ta cảm nhận được
hiện tượng này. Khi ta nhận ra được đâu là bản chất tối hậu của hiện tượng
thì sự dị biệt của thế giới hư ảo và hiện thực sẽ không còn nữa.
Chương 8 đặt vấn đề định mệnh để thảo luận, thí dụ như có hay không
có định mệnh, định mệnh cá nhân và định mệnh tập thể, ý nghĩa về nghiệp
(karma), đâu là mối liên hệ nhân quả và định mệnh. Một câu hỏi khác: nếu
con người và bản ngã chỉ là hư ảo thì làm sao có thể chuyển hoá được cuộc
sống trong hiện kiếp? Karma theo tác giả phải được hiểu là hành động.
Những gì chúng ta suy nghĩ, nói và hành động sẽ tạo nên khuôn mẫu cùa
cuộc đời chúng ta. Ðiều này bắt nguồn từ sự cảm nhận của chúng ta đối với
cuộc đời, nó đến từ ý thức, kinh nghiệm cá nhân về đời sống. Dĩ nhiên sự
cảm nhận này hoàn toàn khác biệt trong từng cá nhân. Một ngưòi đạt đạo
rồi sẽ thấy những ràng buộc trong thế giới hìện tượng là điều hư ảo. Nghiệp
cũng không phải là định mệnh, nó chỉ là một phản ảnh về mối quan hệ nhân
quả, không chỉ trên hành động mà có ý hướng đưa tới hành động. Chúng ta
không bao giờ hoàn toàn lệ thuộc vào định mệnh như những tù nhân, mà
trong đó quá khứ và tương lai làm thành một khối liền chắc. Bằng tự do và
ý thức người ta có thể chuyển nghiệp này. Chúng ta là kết quả của những
quyết định mà chính chúng ta chọn lựa, dĩ nhiên là rất khó khăn khi nỗ lực
thoát ra khỏi căn nghiệp. Ý niệm này được Norbert Wiener cha đẻ của khoa
học cybernétique diễn đạt như sau: Chúng ta chỉ là những ổ xoáy nước
trong một dòng sông vô tận. Chúng ta không là những bản thể trường tồn,
nhưng những dấu vết sẽ còn lưu lại mãi.
Chủ đề của Chương 9 là ý niệm về thời gian qua các lăng kính. Theo
Galilée thì thời gian là một dụng cụ chủ yếu để xếp đặt và nối kết các sự đo
lường về các chuyển động trong các đối tượng nghiên cứu một cách toán
học. Nhưng Newton với quy luật về cơ học đã đưa ra một định nghĩa chính
xác về thời gian.
Theo Newton sự chuyển động các vật thể trong không gian xác định
được vị trí và tốc độ của nó nhờ vào những khoảnh khắc thời gian tiếp nối
nhau. Qua định nghĩa này thì đặc điểm của thời gian là độc nhất, tuyệt đối
và phổ quát. Lý thuyết này bị đánh đổ bởi lập thuyết tương đối của Einstein.
Thời gian thì theo Einstein co dãn và tùy thuộc không gian. Ngoài ra
Einstein còn cho rằng không gian và thời gian không thể sống tách rời nhau,
cả hai là một cặp kết hợp nhau. Einstein còn phát hiện thêm trong lý thuyết
tương đối tổng quát của ông: Thời gian không những chậm lại bởi vận tốc
mà còn chậm lại bởi trọng lực. Phật giáo nhìn vấn đề thời gian khác hơn.
Thời gian vật lý chỉ là một phương cách để tìm hiểu vể thế giới hiện tượng
thôì. Ý niệm thời gian và không gian chỉ có trong thế giới hiện tượng và có
mối quan hệ với những kinh nghiệm với những hệ thống đối chiếu với nó.
Thời gian trôi là một điều không nắm bắt được trong phút giây hiện tại.
Trong phút giây hiện tại thì quá khứ đã chết và tương lai thì chưa xảy ra.
Theo cách nhìn này thì làm sao mà hiện tại có thể hiện hữu hoặc ngưng
đọng ở giữa cái không còn nữa và cáí chưa thể xảy ra. Ý niệm về thời gian
chỉ là chân lý tương đối trong thế giới hiện tượng mà thôi. Những ý niệm
khác nhau vể thời gian qua quan điểm của Heraclite, Saint Augustin,
Aristote, Kant và Husserl được hai tác giả đưa ra giải thích. Nhiều kinh điển
Phật giáo được trích dẫn trong trong chương này để giải thích về ý niệm
thời gian. Phật giáo dùng thời gian như một quan điểm tâm lý nhằm chế
ngự những nỗi lo âuvề cái chết và khuyến khích người ta nên chuyên cần tu
tập. Ý thức được thời gian trôi là quí giá nên người học Phật sẽ luôn luôn
tập trung để tu tập, nhưng cũng không sống trong nỗi ám ảnh về cái chết,
mà chỉ suy tưởng không ngừng về việc này nhằm chuẩn bị đón nhận nó đến
trong thanh thản an lạc.
Chương 10 giải thích thuyết nhân quả theo Khoa học và Phật giáo. Lý
thuyết tương đối của Einstein đã đưa ra nhiều luận điểm mới, mà theo đó
nguyên tắc về nhân quả cũng cần được xét lại. Không có gì đi nhanh hơn
ánh sáng và chính ánh sáng cũng là một phương tiện truyền thông nhanh
nhất trong vũ trụ, theo Einstein. Hai biến cố chỉ có liên hệ nhân quả với
nhau khi mà ánh sáng có đủ thời giờ mang biến cố thứ nhứt đến biến cố thứ
nhì trong khi sự cách biệt của thời gian làm tách biệt chúng ra. Ðiều này
giải thích được mối liên hệ nhân quả của hai biến cố và đồng thời cũng giải
thích được tốc độ của ánh sáng. Một thí dụ được nêu lên để soi sáng vấn đề.
Một tia sét đánh trên hai đầu toa xe lửa đang chạy, ba người A, B và C quan
sát hiện tượng này sẽ giải thích ba cách khác nhau, tùy thuộc vào vị trí mà
họ đang theo dõi. Nếu A đứng yên trên sân ga thì A sẽ thấy tia sét đánh
cùng một lúc phía trước và phía sau của toa xe, nếu B ngồi trong toa xe
đang chạy thì B trước tiên sẽ thấy tiếng sét đánh phía trước của xe rồi liền
sau đó sẽ thấy tiếng sét đánh phía sau. Lý do giải thích hiện tượng này là xe
đang di chuyển, ánh sáng của tia chớp phía trước ít khoảng cách hơn tia
sáng phía sau. Vận tốc của ánh sáng thì không thay đổi, nhưng ánh sáng đến
phía trước thì cần ít thời gian hơn phía sau. Còn nếu C ngồi trên một xe
chạy ngược chiều thì sẽ thấy ngược lại điều B chứng kiến. Thí dụ này cho
thấy là những biến cố khi xảy diễn qua sự liên tục của thời gian có thể bị
biến dạng do những chuyển động. Theo đó thì kết quả có thể đi trước
nguyên nhân. Những ý kiến liên quan đến thuyết tất định trong khoa học (le
déterminisme scientifique) qua ý kiến của Heisenberg, Foucault, Newton
Laplace, Poincaré và Hegel được đề cập tới. Khó khăn lớn nhất của khoa
học là không thể nào tiên đoán tương lai một cách chính xác bởì vì sự mô tả
cũng như hiểu biết về điều kiện ban đầu của hiện tượng không bao giờ đầy
đủ. Trong khoa học cũng không có sự tình cờ hay tất yếu, mà chính ra
những nguyên nhân hay điều kiện thì vô kể mà ta không biết trước được.
Theo Phật giáo thì thuyết nhân quả là điều hiển nhiên và quy luật được diễn
biến qua bốn hình thái phát sinh như sau: một vật có thể sinh ra (1) bởi tự
nó, (2) bởi sự vật khác, (3) bởi tự nó và bởi sự vật khác hoặc (4) không bởi
tự nó hoặc không bởi sự vật khác. Dù dạng thái nào thì nhân và quả phải có
một điểm nối kết nhau để tạo thành mối quan hệ, chớ không thể nào là
những thực tại độc lập.
Chương 11 xoay quanh vấn đề mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất
qua Khoa học và Phật học.Theo khoa Sinh học thần kinh (la neurobiologie)
thì tinh thần nảy sinh từ sự tác động lẫn nhau giửa cơ thể và thế giới bên
ngoài và là kết quả của một tổ chức cực kỳ phức tạp từ những phần tử bất
động (les particulesinanimées). Như vậy phải chăng là tinh thần chỉ là một
sự phàn ảnh của vật chất. Trả lời câu hỏi này Phật giáo có một lối giải thich
khác hơn. Có ba trạng thái của tinh thần: tinh thần ở trình độ thứ nhất thì
thô sơ, chỉ thuần túy là sự vận động của não bộ, ở trình độ thứ hai thì tinh
thần có khả năng phản tỉnh bằng suy luận và trực giác để quyết định vấn đề,
và ở trình độ thứ ba thì tinh thần đạt được sự hiểu biết thuần khiết không
dựa trên phương thức phân biệt chủ quan và khách quan hay trên những tư
tưởng suy lý. Ðây là trạng thái cao nhất của tinh thần còn được gọi là sự
minh mẫn. Ba trạng thái này không hoạt động độc lập mà ảnh huởng nhau
qua mối liên hệ nhân quả trong thể xác. Một trạng thái tinh thần này đều bắt
nguồn từ một trạng thái tinh thần khác xảy ra trước đó. Từ nhân sinh ra quả
là một quá trình nảy sinh được kết hợp qua mối liên hệ chù yếu và những
yếu tố phụ thuộc. Thí dụ hạt giống được sinh ra là kết quả của việc nẩy
mầm, đây là mối quan hệ chủ yếu, nhưng cũng đừng quên những yếu tố phụ
thuộc là thời tiết và độ ẩm. Tinh thần nhị nguyên theo lý thuyết của
Descartes cũng được đem ra so sánh với quan điểm của Phật giáo và
nguyên tắc bổ sung của Niels Bohr cũng là một lối giải thích. Ý niệm về
một thế giới vô hình và hữu hình cũng được đề cập tới. Phần quan trọng
nhất của chương này là bàn về vai trò của tinh thần trong đờì sống, đặc biệt
là những kinh nghiêm về cận tử (near death experience) và một câu chuyện
có thật về luân hồi của Shanti Dévi tại Ấn Độ được dẫn chứng.
Chương 12 đặt vấn đề so sánh giữa người máy (robot) và máy vi tính
(ordinateur) với não bộ của con người. Vấn đề khả năng phản tỉnh của con
người được đưa ra để so sánh với những tiến bộ của ngành sinh học hiện đại
cũng như những luận điểm mới trong lãnh vực thông minh nhân tạo
(intelligence artificielle). Theo các nhà sinh học thì bộ óc chỉ là một bộ máy
suy nghĩ được cấu tạo bởi những hoạt động trong một hệ thống thần kinh
tổng hợp. Những gì gọi là tinh thần đều đến từ những tổ chức càng ngày
càng phức tạp hơn của não bộ. Những gì được gọi là ý thức, tư tưởng hay
tình yêu và những cảm xúc trong cuộc sống đều là những kinh nghiệm sống
đã trải qua. Trong khi đó thì Francisco Valera chú ý đến sự tương tác cúa
não bộ và thế giới bên ngoài. Chính sự tác động thường xuyên của môi
trường mới là quan trọng. Hoạt động của hệ thần kinh được đem ra so sánh
với cấu trúc của một máy vi tính (ordinateur) và được xem như là cương
liệu (hardware) trong khi tinh thần được coi như là nhu liệu (software).
Ðiểm dị biệt chủ yếu vẫn là máy móc chỉ tính toán và làm việc theo những
chương trình đã quy định do nhà thảo chương cung cấp không hơn không
kém, mà nó không có ý thức phản tỉnh để trả lời câu hòi tại sao mình có thể
đưa đến kết quả như vậy. Ðiều đáng kinh ngạc ở đây là khả năng tính toán
của máy móc vượt hẳn xa con người. Trong trận đánh cờ của vô địch thế
giới Garry Kasparow và người máy Deep Blue trong năm 1997 đã cho thấy
vấn đề này. Deep Blue thắng được là nhờ có thể nghĩ ra 200 triệu vị thế cờ
trong một giây và từ đó tổng hợp ra được 10 thế cờ liên tiép, trong khi bộ óc
của con người với kinh nghiệm và sự tính toán, đặc biệt là trực giác chỉ tìm
đươc vài nước cờ trước mà thôi. Nhưng cuộc thắng cờ cũng chỉ là sự tuân
lịnh mù quáng của Deep Blue qua những chương trình đã soạn trước của
các chuyên viên. Deep Blue cũng không vui khi thắng, không buồn khi
thua, không hồi hộp khi tính toán và cũng không nuối tiếc khi đi sai một thế
cờ, vì Deep Blue dầu sao đi nữa cũng chỉ là máy mà thôi. Jean- Pierre
Cheanguex cho rằng máy móc chưa có cảm xúc như con người vì chính ra
con người chưa đủ khả năng tạo ra được một bộ óc phức tạp cho máy như
hệ thần kinh con người. Bộ óc con người hiện nay là kết quả của một sự
tiến hoá hơn một tỷ năm trong khi máy vi tính chì xuất hiện từ thập niên 50
của thiên niên kỷ trước. Alain Turing đã đưa ra cách thí nghiệm mới về sự
thông minh của người máy. Ông cũng tiên đoán rằng trong tương lai người
máy có thể đánh lừa đươc người đối thoại với mình trong 5 phút. Các nhà
nghiên cứu trong lãnh vực này cho là một ngày nào đó không xa máy vi
tính và người máy cũng sẽ có cảm giác thương yêu buồn giận như con
người. Nhưng những câu hỏi nền tảng như: tôi từ đâu đến, sống để làm gì
và chết sẽ ra sao thì người máy khộng thể tự hỏi và trả lời được. Một câu
hỏi dễ hiểu nhất mà người máy cũng không biết được là thân phận mình sẽ
ra sao khi cúp điện. Sự tiến hóa của ý thức qua hai dạng thái: ý thức sơ khởi
và ý thức phản tỉnh, luận điểm này đươc hai tác giả bàn đến trong mối quan
hệ với Phật giáo ờ cuối chương. Những kinh nghiệm mà chúng ta có được
về tinh thần, những khả năng mà chúng ta có thể hiểu được bản chất của
tinh thần qua phương pháp nội suy hay chế ngự tinh thần bằng cách coi nó
như một đối tượng nghiên cứu nội quan vẫn chưa được khoa học giải thích
thoả đáng. Những điều bàn đến chỉ nằm phản ảnh được vấn đề trong chân lý
tương đối mà thôi. Những suy lý, hy vọng hay lo âu đưa chúng ta tới quyết
định này hay quyết định khác vẫn nằm trong phạm vi cùa thế giới vô minh
và mê ảo. Chúng ta vẫn còn lầm lạc trong những luồng tư tưởng mà chúng
ta cho là thực tại. Chính Giác ngộ mới là kiến thức duy nhất vượt qua sự
lầm lẫn này, không có căn cứ trên ý niệm, vì ý niệm hoàn toàn bất lực trước
những bản chất tối hậu cúa tinh thần.
Chương 13 đề cập tới ý niệm về tinh thần trong mối quan hệ với vũ trụ
qua Khoa học và Phật giáo. Theo Phật giáo tinh thần và vũ trụ cộng sinh và
cộng hưỏng nhau, không thể nào có một cuộc sống riêng biệt, cả hai chỉ
hiện hữu trong thế giới hiện tượng và chì có giá trị chân lý tương đối. Theo
ý kiến của các nhà sinh học hiện đại thì tinh thần đưọc trải qua hai giai đoạn
từ không ý thức đến có ý thức. Phật giáo cũng không hẳn đi ngược lại lý
thuyết về tiến hoá, nhưng [lại cho rằng?] qua sự tiến hoá của thế giới súc
vật đến thế giới của con người thì khả năng phản tỉnh của con người là ở
mức độ cao nhất, đặc biệt là khà năng cảm nhận hạnh phúc và đau khổ
trong cuộc đời. Phật giáo chia thế giới làm ba loại: ước vọng, hữu hình và
vô hình. Yếu tố quan trọng làm chuyển hóa đời sống con người là đìều kiện
tinh thần. Chính sự thù ghét, tham lam, ích kỷ làm cản trở sự chuyển hoá
đó. Ðó chính là màn chắn l...
Vietsciences- Đỗ Kim Thêm 27/09/2005
Cảm tưởng về quyển "The Quantum and the Lotus"
Vô Tận trong lòng bàn tay. Từ thuyết Ðại bùng nổ đến Giác ngộ
Nguyên bản Pháp Ngữ:
L'infini dans la paume de la main. Du Big Bang à l'Éveil Tác giả:
Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận Nhà xuất bản: Fayard/Nil, Paris
2000 ISBN 2-84111-174-1.
Bản dịch Anh Ngữ:
The Quantum and the Lotus, A journey to the Frontiers where Science
and Buddhism meet; Publisher Crown Pub, August 2001, 1st Edition ISBN
0-60960-854-1
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
ÐẠI Ý
TÁC GIẢ
NỘI DUNG TÁC PHẨM
Ý KIẾN CỦA NGƯỜI ĐỌC
LỜI NÓI ĐẦU CỦA MATTHIEU RICARD
Chương 1. NƠI GIAO NHAU NHỮNG CON ĐƯỜNG
Chương 2. TỒN TẠI VÀ KHÔNG TỒN TẠI
Chương 3. ĐI TÌM NGƯỜI THỢ ĐỒNG HỒ VĨ ĐẠI
Chương 4. VŨ TRỤ TRONG HẠT CÁT
Chương 5. NHỮNG ẢO ẢNH CỦA HIỆN THỰC
Chương 6. NHƯ MỘT TIA CHỚP GIỮA ĐÁM MÂY MÙA HÈ
Chương 7. MỖI NGƯỜI CÓ MỘT THỰC TẠI RIÊNG
Chương 8. HÀNH ĐỘNG SINH RA TA
Chương 9. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN
Chương 10. HỖN ĐỘN VÀ HÀI HÒA
Chương 11. RANH GIỚI ẢO
Chương 12. ROBOT CÓ NGHĨ RẰNG CHÚNG BIẾT TƯ DUY HAY KHÔNG?
Chương 13. NHƯ NHỮNG CON SÓNG CỦA ĐẠI DƯƠNG
Chương 14. NGỮ PHÁP CỦA VŨ TRỤ
Chương 15. BÍ MẬT CỦA TOÁN HỌC
Chương 16. LÝ TRÍ VÀ CHIÊM NGHIỆM
Chương 17. NHỮNG PHẢN CHIẾU TRONG GƯƠNG
Chương 18. VẺ ĐẸP NẰM TRONG MẮT NGƯỜI NGẮM
Chương 19. TỪ THIỀN ĐỊNH ĐẾN HÀNH ĐỘNG
KẾT LUẬN CỦA NHÀ SƯ
KẾT LUẬN CỦA NHÀ KHOA HỌC
THUẬT NGỮ KHOA HỌC
THUẬT NGỮ PHẬT GIÁO
o0o
ÐẠI Ý
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Sự dị biệt giữa tôn giáo và khoa học được đánh dấu khởi đầu từ luận đề
của Galilée và từ đó đã khiến nhiều người cho là hai thế giới này không thể
nào gặp nhau được. Einstein khi đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác
đã cho là: nếu có một tôn giáo có thể đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi
của khoa học, thì chính đó là Phật giáo. Einstein muốn nói tới tính cách
thuần lý và thực tiển của Phật Giáo, khi ông so sánh thấy các tôn giáo khác
chỉ dựa trên kinh điển và giáo điều.
Ðúng như điều Einstein cảm nhận, Phật giáo là một tôn giáo có thể đối
thoại với khoa học, cả hai không những không đối kháng mà còn bổ khuyết
cho nhau trong việc tìm hiểu khoa học hiện đại và đời sống tinh thần của
từng cá nhân cũng như trong nỗ lực chế ngự thiên nhiên và kềm chế bản
ngã để tìm đường thoát khổ. Ðó là nội dung chính của cuốn sách sẽ được
giới thiệu sau đây. Tác phẩm này là một công trình đáng kể nhằm đóng góp
vào sự tìm hiểu tương quan giữa Khoa học hiện đại và Phật giáo và được
hình thành trong khuôn khổ một cuộc hội thảo tại Ðại Học Andorre, Pháp,
giữa một Phật tử người Việt đã trở thành nhà Khoa học và một nhà Sinh học
người Pháp đã trở thành tu sĩ Phật giáo.
TÁC GIẢ
Ông Trịnh Xuân Thuận, giáo sư Ðại học Virginia Hoa kỳ ngành Vật lý
thiên thể (Astrophysique), cũng là một người theo đạo Phật. Với hai tác
phẩm khoa học là La Mélodie secrète và Le Chaos et l'Harmonie(nxb
Fayard 1988 và 1998) ông là một tác giả nổi danh. (1)
Ông Matthieu Ricard, Tiến sĩ Sinh học (Biologie), ngườì Pháp. Sau
nhiều năm làm việc về Di truyền học tại Institut Pasteur, Paris, ông đã để
tâm nghiên cứu Phật giáo và quyết định thoát tục, trở thành một tu sĩ Phật
giáo. Ông hiện tu tập tại một thiền viện ở Schechen, gần Katmandou, Népal.
Ông cũng là một tác giả nổi tiếng tại Pháp với tác phẩm Le Moine et le
philosophe (Matthieu Ricard/Jean-François Revel , nxb NiL 1997) và nhiều
tác phẩm khác.
NỘI DUNG TÁC PHẨM
Sách gồm có 19 chương, phần nhập đề, hai kết luận của hai tác giả,
phần chú thích, hai phần chú giải thuật ngữ Khoa học và Phật học và lời
cám ơn các cộng tác viên.
Chương 1:
Ðối thoại mở đầu nhằm xác định khảo hướng khác nhau của hai lãnh
vực khoa học và Phật giáo. Khoa học thì nhằm tìm hiểu những bí ẩn của
cuộc đời và chinh phục thiên nhiên, trong khi Phật giáo nhắm hướng giải
thoát con người ra khỏi những đau khổ bằng cách tìm hiểu bản chất chân
thực của đời sống tinh thần và khuyến khích việc tu tập và thực hiện lòng từ
bi. Ðạo đức Phật giáo cũng đóng góp không những hữu ích trong nghiên
cứu khoa học mà còn trong đời sống cá nhân của nhà nghiên cứu. Công
trình nghiên cứu phải nhằm các công ich chung hơn là theo đuổi những tư
lợi cá nhân, mà đạo đức cá nhân của nhà khoa học cũng không kém phần
quan trọng. Những tính tình cá nhân của Newton, Philipp Lenard và
Johannes Stark được nêu lên như những trường hợp xấu điển hình. Lòng
quả cảm của Einstein trong việc phản đối chế độ Ðức Quốc Xã, chống thả
bom nguyên tử và chế độ phân biệt chủng tộc được ca ngợi về mặt công ích,
trong khi đời sống cá nhân của ông cũng có đôi điều đáng nói. Công trình
nghiên cứu Hisato Yoshimura đóng góp về lãnh vực khoa học môi trường,
tuy được nhiều giải thương cao quý của Nhật, nhưng phương cách thử
nghiệm của ông được coi là vô nhân đạo. Tính vị tha và lòng trách nhiệm
trong Phật giáo cũng là một định hướng cần thiết cho khoa học hìện đại: các
công trình nghiên cứu và các thành quả khoa học không nên gây đau khổ
cho tha nhân. Nhưng điều này thật ra quá khó khăn cho người nghiên cứu,
ai có ngờ lý thuyết tương đối của Einstein lại áp dụng vào việc chế bom
nguyên tử để tàn sát dân Nhật tại Hiroshima và Nagasaki. Mục tiêu của đạo
đức không phải là kềm hãm lại các nghiên cứu khoa học, mà làm sao nêu
lên được đức tính vị tha trong Phật giáo để làm nền tảng cho mọi hoạt động
khoa học. Một thí dụ mới mẻ khác được nêu lên là việc lai tạo vô tính (le
clonage). Nhiều tôn giáo khác đã phản đối việc nghiên cứu này chỉ vì lý do
đơn giản hơn: giá trị thiêng liêng của Ðấng Sáng Thế không còn nữa. Trong
khi đó thì vấn đề này được Phật giáo nhìn dưới một khía cạnh phóng
khoáng, it giáo điều hơn, bởi vì trong Phật giáo không có vấn đề Ðấng Sáng
Tạo. Theo tác giả, cũng nên chấp nhận việc lai tạo vô tính, khi nó nhằm
muc tiêu trị liệu y khoa và làm giảm đi những đau khổ của con người. Ở
cuối chương sách có đặt vấn đề nên cải thiện cá nhân trong đời sống đạo
đức hàng ngày, hơn là âu lo đến các căn nguyên của vũ trụ hay cấu tạo vật
chất. Sự tìm hiểu về ngoại giới cũng chỉ là phương tiện giúp đỡ đưa đến sự
giác ngộ và giải thoát cá nhân mà thôi. Tất cả suy luận của Phật tử đều phảì
dựa trên sự quan sát thực tai và những kinh nghiệm cá nhân, trực tiếp: vấn
đề không phải tin một cách giáo điều mà cần có một nhận thức làm khởi
điểm cho niềm tin.
Chương 2 đặt vấn đề có hay không sự khai nguyên vũ trụ. Ðây là một
bận tâm lớn cho các khoa học và các tôn giáo. Sự hình thành và tiến hóa
của vũ trụ được giải thích qua lý thuyết Ðại bùng nổ (Big Bang). Theo cách
nhìn của các nhà khoa học thì vũ trụ trước tiên được bùng nổ cách đây 15 tỷ
năm, từ trong phân tử ở trạng thái cực nhỏ, nóng và dày bị dồn nén. Dần dà
qua thời gian vũ trụ được bành trướng, liên tục tan loãng và đông lạnh.
Trong khi đó căn nguyên của vũ trụ không là một đề tài lớn trong Phật giáo.
Ðiểm chủ yếu người học đạo Phật nên chuyên tâm là tìm hiểu thực tế về
những gì đã và sẽ đến trong cuộc sống để từ đó tìm ra một chân lý tốí hậu
cho đời sống cá nhân mình. Nỗ lực tìm kiếm này không liên hệ đến sự khai
sinh hay tận thế cũa vũ trụ. Sự tương phản này nêu lên được tính cách hư ảo
của thế giớí hiện tượng theo cách nhìn của Phật giáo. Những tư tưởng chính
về triết học Tính Không và trạng thái vô thủy vô chung của vũ trụ được giải
thích. Theo đó thì những ý niệm về khai nguyên và tận thế của vũ trụ là
những vấn đề thuộc về chân lý tương đối mà thôi. Trong khi ta đi tìm kiếm
giá trị tuyệt đối, thì vấn đề này không còn có ý nghĩa gì. Một điểm dị biệt
được nêu lên là: khi nhà khoa học đề cập tới vũ trụ, phải được hiểu đây là
một thực tại khách quan, độc lập vơí ý thức, trong khi đó Phật giáo không
nhìn vũ trụ như một thành phần hoàn toàn độc lập vớ ý thức, mà đặt mối
liên hệ này vòng luân hồi liên tục.
Chương 3 đề cập tới vấn đề có một nguyên lý tổ chức cho vũ trụ hay
không. Câu hỏi là vũ trụ hoàn toàn vô nghĩa hay là trật tự của nó được sắp
xếp một cách tuyệt hảo bởi một bàn tay vô hình nào đó, nhờ đó mà đời sống
và ý thức mới có được.Theo quan điểm cùa Phật giáo thì vũ trụ là một luận
điểm siêu hình và lý thuyết Ðại bùng nổ chỉ giải thích được một giai đoạn
trong một quá trình liên tục của vũ trụ. Thế giới hiện tượng và ý thức cộng
sinh nhau và cũng không loại trừ nhau trong thời gian theo nguyên lý vô
thủy vô chung. Chính vì thế mà vấn đề tìm ra lời giải thích cho sự dung hợp
này không là điều không cần thiết. Vấn đề toàn năng và toàn trí của Thượng
Ðế trong việc sáng lập vũ trụ được hai tác giả thảo luận. Lập luận tin có
Ðấng Sáng Tạo thế gian rất đơn giản: vũ trụ cũng như một cái đồng hồ.
Ðồng hồ chỉ là công trình của người thợ làm đồng hồ, các bộ phận của đồng
hồ tự nó không trờ thành đồng hồ được. Lập luận khoa học ngược lại đặt
vấn đề sự tạo lập thế gian cùa Thượng Ðế nằm trong quy luật của thời gian
hay ngoài thời gian. Ðiều quan trọng là thời gian thì tương đối, như Einstein
đã tìm thấy. Như vậy Thương Ðế cũng phải chịu chi phối bởi quy luật thởi
gian. Ðiều này có nghĩa là Thượng đế không còn toàn năng nữa. Nếu cho
rằng Thượng Ðế ở ngoài thời gian thì Thượng Ðế cũng sẽ không còn cứu
rỗi được chúng ta bới vì hành vi của chúng ta bị hạn chế trong thời gian. Lý
thuyết của Spinoza cũng được đề cập đến: nguyên tắc tạo lập vũ trụ chỉ chi
phối ở giai đoạn phôi thai và Ðấng Sáng Thế cũng không thể được nhân
cách hoá. Vấn đề đặt ra ở cuối chương sách là làm sao Phật giáo có thể
dung hòa với các tôn giáo khác, khi Phật giáo coi Ðấng Sáng Thế là một ý
niệm siêu hình. Tuy Phật giáo không chia sẻ những ý niệm này, nhưng luôn
tôn trọng những giáo lý của các tôn giáo khác. Phật giáo cũng không mơ
ước trộn lẫn các ý niệm của các tôn giáo khác nhau để mơ lập thành một tôn
giáo đại đồng. Nếu như trong thực tế đời sống hằng ngày ai cũng đều mong
tìm cho mình một thức ăn thich hợp khẩu vị cho cơ thể thì người ta cũng
nên tìm tương tự như vậy cho đời sống tâm linh. Ðiều quan trọng là làm sao
người ta tu tập để hướng thượng và trở thành những người lương thiện và
đầy tính từ bi.
Câu hỏi trong Chương 4 là sự tương thuộc và tổng thể của thế giới hiện
tượng, cụ thể là các vật chất trong thế giới hiện tượng được hình thành hoàn
toàn độc lập hay là liên kết và tương thuộc nhau trong một tổng thể. Theo
Phật giáo, sự hình thành thế giới hiện tượng không bắt nguồn từ những
nguyên nhân độc lập và những hoàn cảnh chuyên biệt. Sự cảm nhận này là
một sai lầm. Kinh nghiệm thực tế của đời sống hằng ngày cho thấy vật chất
là những thực tại độc lập khách quan, mỗi vật chất đều có một thực thể nội
tại của nó. Nhưng đây là một cách nhìn quá đơn giản, mà không thấy được
mối liên hệ nhân quả trong thế giới hiện tượng một cách tổng thể. Tất cả
mọi yếu tố đều tương thuộc lẫn nhau, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này
diệt thì cái kia sẽ diệt. Ý niệm tương thuộc này liên hệ đến triết học Tính
Không trong Phật giáo. Cũng xin đừng hiểu Tính Không là hoàn toàn phủ
nhận thế giới hiện tượng hay chỉ là hư vô chù nghĩa cùa Tây phương. Phật
giáo nhìn thế giới hiện tượng như là sự diễn biến tương thuộc nhau và liên
tục theo mối liên hệ nhân quả. Vấn đề tương thuộc này trong khoa học cũng
được giải thích qua các luận thuyết của Einstein, Podolsky và Rosen (EPR),
1935. Những thí nghiệm của John Bell năm 1964 và gần đây của Nicolas
Gisin năm 1998 về chức năng của quang tử đã soi sáng thêm vấn đề. Thí
nghiệm về quả lắc của Foucault từ 1851 cũng đã đưa ra một ý niệm quan
trọng: tất cả những gì xảy và diễn ra ở đây và hôm nay đều tùy thuộc vào
toàn thể vũ trụ. Nguyên lý của Mach cũng bổ túc thêm là: khối lượng của
một vật thể bắt nguồn từ những ảnh hưởng của vũ trụ. Hai khảo hướng khác
nhau cùng đi chung một kết luận: sự tương thuộc lẫn nhau giữa con người
và vũ trụ trong thế giới hiện tượng. Từ đó con người có một nhận thức mới,
đó là ý thức về trách nhiệm đại đồng trưóc mối liên hệ này. Có ý thức này
thì con ngưới mới dẹp bỏ lòng ích kỷ, hưóng về tha nhân cùng xây đắp một
hạnh phúc chung và đặt biệt là không gây đau khổ cho kẻ khác, thực hiện từ
bi. Ðó là một chuyển hoá nội tâm đưa lần đến giác ngộ. Vũ trụ quan này
đuợc diễn đạt qua lời thơ của William Blake dùng làm tựa đề cho tác phẩm
như sau:
Voir un univers dans un grain de sable
Et un paradis dans une fleur sauvage
Tenir l'infini dans dans la paume de la main
Et l'éternité dans une heure
Dich xuôi:
Nhìn vũ trụ trong một hạt cát
Và thiên đàng trong một cành hoa hoang dại
Nẳm giữ vô tận trong lòng bàn tay
Và vĩnh cửu trong phút giây
Dịch thơ:
Trong hạt cát ta ngắm nhìn vũ trụ
Nhìn thiên đàng giữa hoa dại hoang sơ
Ôi thiên thu lắng đọng chỉ một giờ
Giữ vô tận trong bàn tay bé nhỏ
(Bản dịch thơ của Lê Cao Bằng Calgary, Canada)
Chủ đề của Chương 5 là tìm ra lời giải thích cho sự hiện hữu của các
phần từ sơ đẳng (les particules élémentaires) trong Phật giáo và Khoa học.
Phật giáo cũng quan tâm tới vấn đề khoa học này nhưng những lời giải
thích hầu như không gây được những hậu quả sâu xa. Khi tìm hiểu về
những thực tại hay hư ảo của cuộc đời vây quanh, vấn đề là phải làm sáng
tỏ đâu là bản chất của những gì đã cấu tạo nên những viên gạch nền móng
này. Ðể giải thích về tính cách tổng thể của thế giới hiện tượng một thí dụ
được nêu lên: bản chất của ánh sáng. Nguyên tắc bổ sung (principe de
complémentarité) của Niels Bohr được giải thích: ánh sáng vừa là làn sóng
và vừa là phân tử. Ánh sáng không thể nào có một thực tại nội tại tuyệt đối
hoặc là phân tử hoặc là làn sóng. Ðiều này tùy thuộc vào môi trường và
phương thức thử nghiệm. Ðó cũng là ý niệm chính trong nguyên tắc bất
định (principe d'incertitude) của Heisenberg. Khi nghiên cứu về điện tử
(electron), thì ông cho rằng không thể nào xác định tuyệt đối được vị trí và
tốc độ của điện tử. Những thành quả nghiên cứu của trường phái
Copenhague được tóm lược qua kết luận: những nguyên tử tạo nên một thế
giới của những tiềm năng hay những khả năng hơn là những thế giới của
vật chất và những sự kiện. Ý niệm về nguyên tử được vay mượn để giải
thích vể thế giới hiện tượng. Bohr cũng xác nhận sự khó khăn khi làm sao
vượt qua được những sự kiện và những kết quả thử nghiệm: sự mô tả của
chúng ta không nhằm soi sáng những đặc điểm thực tế của hiện tượng, mà
phải tìm ra những tương quan của các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống
của chúng ta càng nhiều càng tốt. Những lập luận của Jacob, Schrödinger,
Einstein và Stapp được giới thiệu, nhưng quan trọng nhất là của Nottale.
Nottale xác nhận là Phật giáo từ 2500 năm trước đã tìm thấy sự hiện hữu
của vật chất là tương đối, vấn đề là làm sao tìm ra những mối quan hệ trong
thế giới này.
Chương 6 đề cập tính cách vô thường trong thế giới hiện tượng. Ðây
không chỉ là một đề tàì để trầm tư mặc tưởng mà còn là một động lực giúp
chúng ta sử dụng thời gian còn lại của đời mình hữu ích hơn. Sự tìm hiểu
của chúng ta về thực tại tùy thuộc vào viễn kiến về thế giới và thái độ của
chúng ta. Câu hỏi đặt ra: có hay không những thực thể thường hằng (les
entités permanentes) trong vũ trụ? Nếu không có gì vĩnh cửu tại sao chúng
ta lại có thể gọi những sự vật có một đời sống cố hữu (une existence
intrinsèque)? Những ý niệm vô thường trong đời sống được đề cập. Sự thay
đổi này được thể hiện qua quy luật sanh lão bệnh tử, trong thay đổi của cảm
xúc. Ðìểm tinh tế nhất phải nhận ra là trong từng phút giây của đời sống
cũng có sự thay đổi. Những biến dạng của những phân tử và về cách nhận
dạng các phân tử này qua cách sử dụng 18 loại quarks khác nhau được giải
thích. Lý thuyết tiêu chuấn (theorie standard) nhằm chứng minh tính cách
bất tử của các phân tử, đặc biệt là dương tử (proton) được đề cập. Tính bất
tử này phải hiểu khi so sánh với đời sống của con người, nhưng nó có thể
biến dạng qua thời gian. Trong nỗ lực tìm ra một sự mô tả mới về những
hiện tượng của vũ trụ thuyết siêu lực (théorie de superforce) được giải
thích. Ðây là một tổng hợp các giả thuyết trước đây. Theo đó thì những
phân tử không phải là những phần tử sơ đẳng, mà chính là những chấn động
trên những sợi dây được gọi là supercorde. Chính năng lượng của những
chấn động này mới xác định được khối lượng của những phân tử. Ðây còn
là một luận điểm mơ hồ, cần được kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Chương 7 đề cập tới vấn đề làm sao ta có thể hiểu thực tại của thế giới
hiện tượng, khi nó được che đậy bởi những lớp màn chắn bên ngoài. Ðối
với khoa học thì vấn đề này được nhận chân bằng giả thuyết và thử
nghiệm.Thật ra có ít nhà khoa học quan tâm sâu xa đến những nền tảng triết
lý cùa những công trình mà họ đang theo đuổi. Những áp dụng thực tìễn
trong đời sống về những thành tựu của lãnh vực cơ học lượng tử (la
mécanique quantique) đã cho thấy vấn đề này. Chính d'Espagnat cũng xác
nhận là khoa học có thể mô tả được những thực tại được thử nghiệm. Kết
quả này cũng chỉ là những khái luận về một thực tại độc lập không ghi lại
được trong không và thời gian. Một đặc điểm khác: đối tuợng quan sát hoàn
toàn lệ thuộc vào vị trí và thái độ của nhà quan sát, điển hình là sự quan sát
cầu vòng. Cầu vòng là một hình ảnh mà Phật giáo hay dùng đến để diễn tả
tính cách hư thực và tương thuộc của thế giới hiện tượng. Ai cũng thấy cầu
vòng chiếu sáng nhưng không ai có thể bắt lấy được, nên nó vừa là hư vừa
là thực. Cầu vòng chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên của hai yếu tố: lớp màn
mưa và ánh sáng mặt trời, nếu thiếu một, thì cầu vòng sẽ biến mất, nên nó
tương thuộc. Vấn đề nhận chân ra thế giới hiện tượng có hai khía cạnh: bản
chất tối hậu của hiện tượng và phương cách mà chúng ta cảm nhận được
hiện tượng này. Khi ta nhận ra được đâu là bản chất tối hậu của hiện tượng
thì sự dị biệt của thế giới hư ảo và hiện thực sẽ không còn nữa.
Chương 8 đặt vấn đề định mệnh để thảo luận, thí dụ như có hay không
có định mệnh, định mệnh cá nhân và định mệnh tập thể, ý nghĩa về nghiệp
(karma), đâu là mối liên hệ nhân quả và định mệnh. Một câu hỏi khác: nếu
con người và bản ngã chỉ là hư ảo thì làm sao có thể chuyển hoá được cuộc
sống trong hiện kiếp? Karma theo tác giả phải được hiểu là hành động.
Những gì chúng ta suy nghĩ, nói và hành động sẽ tạo nên khuôn mẫu cùa
cuộc đời chúng ta. Ðiều này bắt nguồn từ sự cảm nhận của chúng ta đối với
cuộc đời, nó đến từ ý thức, kinh nghiệm cá nhân về đời sống. Dĩ nhiên sự
cảm nhận này hoàn toàn khác biệt trong từng cá nhân. Một ngưòi đạt đạo
rồi sẽ thấy những ràng buộc trong thế giới hìện tượng là điều hư ảo. Nghiệp
cũng không phải là định mệnh, nó chỉ là một phản ảnh về mối quan hệ nhân
quả, không chỉ trên hành động mà có ý hướng đưa tới hành động. Chúng ta
không bao giờ hoàn toàn lệ thuộc vào định mệnh như những tù nhân, mà
trong đó quá khứ và tương lai làm thành một khối liền chắc. Bằng tự do và
ý thức người ta có thể chuyển nghiệp này. Chúng ta là kết quả của những
quyết định mà chính chúng ta chọn lựa, dĩ nhiên là rất khó khăn khi nỗ lực
thoát ra khỏi căn nghiệp. Ý niệm này được Norbert Wiener cha đẻ của khoa
học cybernétique diễn đạt như sau: Chúng ta chỉ là những ổ xoáy nước
trong một dòng sông vô tận. Chúng ta không là những bản thể trường tồn,
nhưng những dấu vết sẽ còn lưu lại mãi.
Chủ đề của Chương 9 là ý niệm về thời gian qua các lăng kính. Theo
Galilée thì thời gian là một dụng cụ chủ yếu để xếp đặt và nối kết các sự đo
lường về các chuyển động trong các đối tượng nghiên cứu một cách toán
học. Nhưng Newton với quy luật về cơ học đã đưa ra một định nghĩa chính
xác về thời gian.
Theo Newton sự chuyển động các vật thể trong không gian xác định
được vị trí và tốc độ của nó nhờ vào những khoảnh khắc thời gian tiếp nối
nhau. Qua định nghĩa này thì đặc điểm của thời gian là độc nhất, tuyệt đối
và phổ quát. Lý thuyết này bị đánh đổ bởi lập thuyết tương đối của Einstein.
Thời gian thì theo Einstein co dãn và tùy thuộc không gian. Ngoài ra
Einstein còn cho rằng không gian và thời gian không thể sống tách rời nhau,
cả hai là một cặp kết hợp nhau. Einstein còn phát hiện thêm trong lý thuyết
tương đối tổng quát của ông: Thời gian không những chậm lại bởi vận tốc
mà còn chậm lại bởi trọng lực. Phật giáo nhìn vấn đề thời gian khác hơn.
Thời gian vật lý chỉ là một phương cách để tìm hiểu vể thế giới hiện tượng
thôì. Ý niệm thời gian và không gian chỉ có trong thế giới hiện tượng và có
mối quan hệ với những kinh nghiệm với những hệ thống đối chiếu với nó.
Thời gian trôi là một điều không nắm bắt được trong phút giây hiện tại.
Trong phút giây hiện tại thì quá khứ đã chết và tương lai thì chưa xảy ra.
Theo cách nhìn này thì làm sao mà hiện tại có thể hiện hữu hoặc ngưng
đọng ở giữa cái không còn nữa và cáí chưa thể xảy ra. Ý niệm về thời gian
chỉ là chân lý tương đối trong thế giới hiện tượng mà thôi. Những ý niệm
khác nhau vể thời gian qua quan điểm của Heraclite, Saint Augustin,
Aristote, Kant và Husserl được hai tác giả đưa ra giải thích. Nhiều kinh điển
Phật giáo được trích dẫn trong trong chương này để giải thích về ý niệm
thời gian. Phật giáo dùng thời gian như một quan điểm tâm lý nhằm chế
ngự những nỗi lo âuvề cái chết và khuyến khích người ta nên chuyên cần tu
tập. Ý thức được thời gian trôi là quí giá nên người học Phật sẽ luôn luôn
tập trung để tu tập, nhưng cũng không sống trong nỗi ám ảnh về cái chết,
mà chỉ suy tưởng không ngừng về việc này nhằm chuẩn bị đón nhận nó đến
trong thanh thản an lạc.
Chương 10 giải thích thuyết nhân quả theo Khoa học và Phật giáo. Lý
thuyết tương đối của Einstein đã đưa ra nhiều luận điểm mới, mà theo đó
nguyên tắc về nhân quả cũng cần được xét lại. Không có gì đi nhanh hơn
ánh sáng và chính ánh sáng cũng là một phương tiện truyền thông nhanh
nhất trong vũ trụ, theo Einstein. Hai biến cố chỉ có liên hệ nhân quả với
nhau khi mà ánh sáng có đủ thời giờ mang biến cố thứ nhứt đến biến cố thứ
nhì trong khi sự cách biệt của thời gian làm tách biệt chúng ra. Ðiều này
giải thích được mối liên hệ nhân quả của hai biến cố và đồng thời cũng giải
thích được tốc độ của ánh sáng. Một thí dụ được nêu lên để soi sáng vấn đề.
Một tia sét đánh trên hai đầu toa xe lửa đang chạy, ba người A, B và C quan
sát hiện tượng này sẽ giải thích ba cách khác nhau, tùy thuộc vào vị trí mà
họ đang theo dõi. Nếu A đứng yên trên sân ga thì A sẽ thấy tia sét đánh
cùng một lúc phía trước và phía sau của toa xe, nếu B ngồi trong toa xe
đang chạy thì B trước tiên sẽ thấy tiếng sét đánh phía trước của xe rồi liền
sau đó sẽ thấy tiếng sét đánh phía sau. Lý do giải thích hiện tượng này là xe
đang di chuyển, ánh sáng của tia chớp phía trước ít khoảng cách hơn tia
sáng phía sau. Vận tốc của ánh sáng thì không thay đổi, nhưng ánh sáng đến
phía trước thì cần ít thời gian hơn phía sau. Còn nếu C ngồi trên một xe
chạy ngược chiều thì sẽ thấy ngược lại điều B chứng kiến. Thí dụ này cho
thấy là những biến cố khi xảy diễn qua sự liên tục của thời gian có thể bị
biến dạng do những chuyển động. Theo đó thì kết quả có thể đi trước
nguyên nhân. Những ý kiến liên quan đến thuyết tất định trong khoa học (le
déterminisme scientifique) qua ý kiến của Heisenberg, Foucault, Newton
Laplace, Poincaré và Hegel được đề cập tới. Khó khăn lớn nhất của khoa
học là không thể nào tiên đoán tương lai một cách chính xác bởì vì sự mô tả
cũng như hiểu biết về điều kiện ban đầu của hiện tượng không bao giờ đầy
đủ. Trong khoa học cũng không có sự tình cờ hay tất yếu, mà chính ra
những nguyên nhân hay điều kiện thì vô kể mà ta không biết trước được.
Theo Phật giáo thì thuyết nhân quả là điều hiển nhiên và quy luật được diễn
biến qua bốn hình thái phát sinh như sau: một vật có thể sinh ra (1) bởi tự
nó, (2) bởi sự vật khác, (3) bởi tự nó và bởi sự vật khác hoặc (4) không bởi
tự nó hoặc không bởi sự vật khác. Dù dạng thái nào thì nhân và quả phải có
một điểm nối kết nhau để tạo thành mối quan hệ, chớ không thể nào là
những thực tại độc lập.
Chương 11 xoay quanh vấn đề mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất
qua Khoa học và Phật học.Theo khoa Sinh học thần kinh (la neurobiologie)
thì tinh thần nảy sinh từ sự tác động lẫn nhau giửa cơ thể và thế giới bên
ngoài và là kết quả của một tổ chức cực kỳ phức tạp từ những phần tử bất
động (les particulesinanimées). Như vậy phải chăng là tinh thần chỉ là một
sự phàn ảnh của vật chất. Trả lời câu hỏi này Phật giáo có một lối giải thich
khác hơn. Có ba trạng thái của tinh thần: tinh thần ở trình độ thứ nhất thì
thô sơ, chỉ thuần túy là sự vận động của não bộ, ở trình độ thứ hai thì tinh
thần có khả năng phản tỉnh bằng suy luận và trực giác để quyết định vấn đề,
và ở trình độ thứ ba thì tinh thần đạt được sự hiểu biết thuần khiết không
dựa trên phương thức phân biệt chủ quan và khách quan hay trên những tư
tưởng suy lý. Ðây là trạng thái cao nhất của tinh thần còn được gọi là sự
minh mẫn. Ba trạng thái này không hoạt động độc lập mà ảnh huởng nhau
qua mối liên hệ nhân quả trong thể xác. Một trạng thái tinh thần này đều bắt
nguồn từ một trạng thái tinh thần khác xảy ra trước đó. Từ nhân sinh ra quả
là một quá trình nảy sinh được kết hợp qua mối liên hệ chù yếu và những
yếu tố phụ thuộc. Thí dụ hạt giống được sinh ra là kết quả của việc nẩy
mầm, đây là mối quan hệ chủ yếu, nhưng cũng đừng quên những yếu tố phụ
thuộc là thời tiết và độ ẩm. Tinh thần nhị nguyên theo lý thuyết của
Descartes cũng được đem ra so sánh với quan điểm của Phật giáo và
nguyên tắc bổ sung của Niels Bohr cũng là một lối giải thích. Ý niệm về
một thế giới vô hình và hữu hình cũng được đề cập tới. Phần quan trọng
nhất của chương này là bàn về vai trò của tinh thần trong đờì sống, đặc biệt
là những kinh nghiêm về cận tử (near death experience) và một câu chuyện
có thật về luân hồi của Shanti Dévi tại Ấn Độ được dẫn chứng.
Chương 12 đặt vấn đề so sánh giữa người máy (robot) và máy vi tính
(ordinateur) với não bộ của con người. Vấn đề khả năng phản tỉnh của con
người được đưa ra để so sánh với những tiến bộ của ngành sinh học hiện đại
cũng như những luận điểm mới trong lãnh vực thông minh nhân tạo
(intelligence artificielle). Theo các nhà sinh học thì bộ óc chỉ là một bộ máy
suy nghĩ được cấu tạo bởi những hoạt động trong một hệ thống thần kinh
tổng hợp. Những gì gọi là tinh thần đều đến từ những tổ chức càng ngày
càng phức tạp hơn của não bộ. Những gì được gọi là ý thức, tư tưởng hay
tình yêu và những cảm xúc trong cuộc sống đều là những kinh nghiệm sống
đã trải qua. Trong khi đó thì Francisco Valera chú ý đến sự tương tác cúa
não bộ và thế giới bên ngoài. Chính sự tác động thường xuyên của môi
trường mới là quan trọng. Hoạt động của hệ thần kinh được đem ra so sánh
với cấu trúc của một máy vi tính (ordinateur) và được xem như là cương
liệu (hardware) trong khi tinh thần được coi như là nhu liệu (software).
Ðiểm dị biệt chủ yếu vẫn là máy móc chỉ tính toán và làm việc theo những
chương trình đã quy định do nhà thảo chương cung cấp không hơn không
kém, mà nó không có ý thức phản tỉnh để trả lời câu hòi tại sao mình có thể
đưa đến kết quả như vậy. Ðiều đáng kinh ngạc ở đây là khả năng tính toán
của máy móc vượt hẳn xa con người. Trong trận đánh cờ của vô địch thế
giới Garry Kasparow và người máy Deep Blue trong năm 1997 đã cho thấy
vấn đề này. Deep Blue thắng được là nhờ có thể nghĩ ra 200 triệu vị thế cờ
trong một giây và từ đó tổng hợp ra được 10 thế cờ liên tiép, trong khi bộ óc
của con người với kinh nghiệm và sự tính toán, đặc biệt là trực giác chỉ tìm
đươc vài nước cờ trước mà thôi. Nhưng cuộc thắng cờ cũng chỉ là sự tuân
lịnh mù quáng của Deep Blue qua những chương trình đã soạn trước của
các chuyên viên. Deep Blue cũng không vui khi thắng, không buồn khi
thua, không hồi hộp khi tính toán và cũng không nuối tiếc khi đi sai một thế
cờ, vì Deep Blue dầu sao đi nữa cũng chỉ là máy mà thôi. Jean- Pierre
Cheanguex cho rằng máy móc chưa có cảm xúc như con người vì chính ra
con người chưa đủ khả năng tạo ra được một bộ óc phức tạp cho máy như
hệ thần kinh con người. Bộ óc con người hiện nay là kết quả của một sự
tiến hoá hơn một tỷ năm trong khi máy vi tính chì xuất hiện từ thập niên 50
của thiên niên kỷ trước. Alain Turing đã đưa ra cách thí nghiệm mới về sự
thông minh của người máy. Ông cũng tiên đoán rằng trong tương lai người
máy có thể đánh lừa đươc người đối thoại với mình trong 5 phút. Các nhà
nghiên cứu trong lãnh vực này cho là một ngày nào đó không xa máy vi
tính và người máy cũng sẽ có cảm giác thương yêu buồn giận như con
người. Nhưng những câu hỏi nền tảng như: tôi từ đâu đến, sống để làm gì
và chết sẽ ra sao thì người máy khộng thể tự hỏi và trả lời được. Một câu
hỏi dễ hiểu nhất mà người máy cũng không biết được là thân phận mình sẽ
ra sao khi cúp điện. Sự tiến hóa của ý thức qua hai dạng thái: ý thức sơ khởi
và ý thức phản tỉnh, luận điểm này đươc hai tác giả bàn đến trong mối quan
hệ với Phật giáo ờ cuối chương. Những kinh nghiệm mà chúng ta có được
về tinh thần, những khả năng mà chúng ta có thể hiểu được bản chất của
tinh thần qua phương pháp nội suy hay chế ngự tinh thần bằng cách coi nó
như một đối tượng nghiên cứu nội quan vẫn chưa được khoa học giải thích
thoả đáng. Những điều bàn đến chỉ nằm phản ảnh được vấn đề trong chân lý
tương đối mà thôi. Những suy lý, hy vọng hay lo âu đưa chúng ta tới quyết
định này hay quyết định khác vẫn nằm trong phạm vi cùa thế giới vô minh
và mê ảo. Chúng ta vẫn còn lầm lạc trong những luồng tư tưởng mà chúng
ta cho là thực tại. Chính Giác ngộ mới là kiến thức duy nhất vượt qua sự
lầm lẫn này, không có căn cứ trên ý niệm, vì ý niệm hoàn toàn bất lực trước
những bản chất tối hậu cúa tinh thần.
Chương 13 đề cập tới ý niệm về tinh thần trong mối quan hệ với vũ trụ
qua Khoa học và Phật giáo. Theo Phật giáo tinh thần và vũ trụ cộng sinh và
cộng hưỏng nhau, không thể nào có một cuộc sống riêng biệt, cả hai chỉ
hiện hữu trong thế giới hiện tượng và chì có giá trị chân lý tương đối. Theo
ý kiến của các nhà sinh học hiện đại thì tinh thần đưọc trải qua hai giai đoạn
từ không ý thức đến có ý thức. Phật giáo cũng không hẳn đi ngược lại lý
thuyết về tiến hoá, nhưng [lại cho rằng?] qua sự tiến hoá của thế giới súc
vật đến thế giới của con người thì khả năng phản tỉnh của con người là ở
mức độ cao nhất, đặc biệt là khà năng cảm nhận hạnh phúc và đau khổ
trong cuộc đời. Phật giáo chia thế giới làm ba loại: ước vọng, hữu hình và
vô hình. Yếu tố quan trọng làm chuyển hóa đời sống con người là đìều kiện
tinh thần. Chính sự thù ghét, tham lam, ích kỷ làm cản trở sự chuyển hoá
đó. Ðó chính là màn chắn l...
 





