BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên thông tin thư viện

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    2.jpg 1.jpg 2.jpg 1.jpg 15.jpg 9.jpg 7.jpg 3.jpg 10.jpg 16.jpg 21.jpg 22.jpg 23.jpg 24.jpg 20.jpg 19.jpg 18.jpg 17.jpg 16.jpg 15.jpg

    💕💕NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 43 NĂM NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/1982 - 20/11/2025💕💕

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường THCS Quyết Thắng

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    cai-vo-han-trong-long-ban-tay

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 08h:31' 05-03-2024
    Dung lượng: 2.5 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Vô Tận trong lòng bàn tay
    Vietsciences- Đỗ Kim Thêm 27/09/2005
    Cảm tưởng về quyển "The Quantum and the Lotus"
    Vô Tận trong lòng bàn tay. Từ thuyết Ðại bùng nổ đến Giác ngộ
    Nguyên bản Pháp Ngữ:
    L'infini dans la paume de la main. Du Big Bang à l'Éveil Tác giả:
    Matthieu Ricard và Trịnh Xuân Thuận Nhà xuất bản: Fayard/Nil, Paris
    2000 ISBN 2-84111-174-1.
    Bản dịch Anh Ngữ:
    The Quantum and the Lotus, A journey to the Frontiers where Science
    and Buddhism meet; Publisher Crown Pub, August 2001, 1st Edition ISBN
    0-60960-854-1


    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    MỤC LỤC
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
    ÐẠI Ý
    TÁC GIẢ
    NỘI DUNG TÁC PHẨM
    Ý KIẾN CỦA NGƯỜI ĐỌC
    LỜI NÓI ĐẦU CỦA MATTHIEU RICARD
    Chương 1. NƠI GIAO NHAU NHỮNG CON ĐƯỜNG
    Chương 2. TỒN TẠI VÀ KHÔNG TỒN TẠI
    Chương 3. ĐI TÌM NGƯỜI THỢ ĐỒNG HỒ VĨ ĐẠI
    Chương 4. VŨ TRỤ TRONG HẠT CÁT
    Chương 5. NHỮNG ẢO ẢNH CỦA HIỆN THỰC
    Chương 6. NHƯ MỘT TIA CHỚP GIỮA ĐÁM MÂY MÙA HÈ
    Chương 7. MỖI NGƯỜI CÓ MỘT THỰC TẠI RIÊNG
    Chương 8. HÀNH ĐỘNG SINH RA TA
    Chương 9. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN
    Chương 10. HỖN ĐỘN VÀ HÀI HÒA
    Chương 11. RANH GIỚI ẢO
    Chương 12. ROBOT CÓ NGHĨ RẰNG CHÚNG BIẾT TƯ DUY HAY KHÔNG?
    Chương 13. NHƯ NHỮNG CON SÓNG CỦA ĐẠI DƯƠNG
    Chương 14. NGỮ PHÁP CỦA VŨ TRỤ
    Chương 15. BÍ MẬT CỦA TOÁN HỌC
    Chương 16. LÝ TRÍ VÀ CHIÊM NGHIỆM
    Chương 17. NHỮNG PHẢN CHIẾU TRONG GƯƠNG
    Chương 18. VẺ ĐẸP NẰM TRONG MẮT NGƯỜI NGẮM
    Chương 19. TỪ THIỀN ĐỊNH ĐẾN HÀNH ĐỘNG
    KẾT LUẬN CỦA NHÀ SƯ
    KẾT LUẬN CỦA NHÀ KHOA HỌC
    THUẬT NGỮ KHOA HỌC
    THUẬT NGỮ PHẬT GIÁO

    o0o
     

    ÐẠI Ý
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Sự dị biệt giữa tôn giáo và khoa học được đánh dấu khởi đầu từ luận đề
    của Galilée và từ đó đã khiến nhiều người cho là hai thế giới này không thể
    nào gặp nhau được. Einstein khi đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác
    đã cho là: nếu có một tôn giáo có thể đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi
    của khoa học, thì chính đó là Phật giáo. Einstein muốn nói tới tính cách
    thuần lý và thực tiển của Phật Giáo, khi ông so sánh thấy các tôn giáo khác
    chỉ dựa trên kinh điển và giáo điều.
    Ðúng như điều Einstein cảm nhận, Phật giáo là một tôn giáo có thể đối
    thoại với khoa học, cả hai không những không đối kháng mà còn bổ khuyết
    cho nhau trong việc tìm hiểu khoa học hiện đại và đời sống tinh thần của
    từng cá nhân cũng như trong nỗ lực chế ngự thiên nhiên và kềm chế bản
    ngã để tìm đường thoát khổ. Ðó là nội dung chính của cuốn sách sẽ được
    giới thiệu sau đây. Tác phẩm này là một công trình đáng kể nhằm đóng góp
    vào sự tìm hiểu tương quan giữa Khoa học hiện đại và Phật giáo và được
    hình thành trong khuôn khổ một cuộc hội thảo tại Ðại Học Andorre, Pháp,
    giữa một Phật tử người Việt đã trở thành nhà Khoa học và một nhà Sinh học
    người Pháp đã trở thành tu sĩ Phật giáo.

    TÁC GIẢ
    Ông Trịnh Xuân Thuận, giáo sư Ðại học Virginia Hoa kỳ ngành Vật lý
    thiên thể (Astrophysique), cũng là một người theo đạo Phật. Với hai tác
    phẩm khoa học là La Mélodie secrète và Le Chaos et l'Harmonie(nxb
    Fayard 1988 và 1998) ông là một tác giả nổi danh. (1)
    Ông Matthieu Ricard, Tiến sĩ Sinh học (Biologie), ngườì Pháp. Sau
    nhiều năm làm việc về Di truyền học tại Institut Pasteur, Paris, ông đã để
    tâm nghiên cứu Phật giáo và quyết định thoát tục, trở thành một tu sĩ Phật
    giáo. Ông hiện tu tập tại một thiền viện ở Schechen, gần Katmandou, Népal.
    Ông cũng là một tác giả nổi tiếng tại Pháp với tác phẩm Le Moine et le
    philosophe (Matthieu Ricard/Jean-François Revel , nxb NiL 1997) và nhiều
    tác phẩm khác.

    NỘI DUNG TÁC PHẨM
    Sách gồm có 19 chương, phần nhập đề, hai kết luận của hai tác giả,
    phần chú thích, hai phần chú giải thuật ngữ Khoa học và Phật học và lời
    cám ơn các cộng tác viên.
    Chương 1:
    Ðối thoại mở đầu nhằm xác định khảo hướng khác nhau của hai lãnh
    vực khoa học và Phật giáo. Khoa học thì nhằm tìm hiểu những bí ẩn của
    cuộc đời và chinh phục thiên nhiên, trong khi Phật giáo nhắm hướng giải
    thoát con người ra khỏi những đau khổ bằng cách tìm hiểu bản chất chân
    thực của đời sống tinh thần và khuyến khích việc tu tập và thực hiện lòng từ
    bi. Ðạo đức Phật giáo cũng đóng góp không những hữu ích trong nghiên
    cứu khoa học mà còn trong đời sống cá nhân của nhà nghiên cứu. Công
    trình nghiên cứu phải nhằm các công ich chung hơn là theo đuổi những tư
    lợi cá nhân, mà đạo đức cá nhân của nhà khoa học cũng không kém phần
    quan trọng. Những tính tình cá nhân của Newton, Philipp Lenard và
    Johannes Stark được nêu lên như những trường hợp xấu điển hình. Lòng
    quả cảm của Einstein trong việc phản đối chế độ Ðức Quốc Xã, chống thả
    bom nguyên tử và chế độ phân biệt chủng tộc được ca ngợi về mặt công ích,
    trong khi đời sống cá nhân của ông cũng có đôi điều đáng nói. Công trình
    nghiên cứu Hisato Yoshimura đóng góp về lãnh vực khoa học môi trường,
    tuy được nhiều giải thương cao quý của Nhật, nhưng phương cách thử
    nghiệm của ông được coi là vô nhân đạo. Tính vị tha và lòng trách nhiệm
    trong Phật giáo cũng là một định hướng cần thiết cho khoa học hìện đại: các
    công trình nghiên cứu và các thành quả khoa học không nên gây đau khổ
    cho tha nhân. Nhưng điều này thật ra quá khó khăn cho người nghiên cứu,
    ai có ngờ lý thuyết tương đối của Einstein lại áp dụng vào việc chế bom
    nguyên tử để tàn sát dân Nhật tại Hiroshima và Nagasaki. Mục tiêu của đạo
    đức không phải là kềm hãm lại các nghiên cứu khoa học, mà làm sao nêu
    lên được đức tính vị tha trong Phật giáo để làm nền tảng cho mọi hoạt động
    khoa học. Một thí dụ mới mẻ khác được nêu lên là việc lai tạo vô tính (le
    clonage). Nhiều tôn giáo khác đã phản đối việc nghiên cứu này chỉ vì lý do
    đơn giản hơn: giá trị thiêng liêng của Ðấng Sáng Thế không còn nữa. Trong
    khi đó thì vấn đề này được Phật giáo nhìn dưới một khía cạnh phóng
    khoáng, it giáo điều hơn, bởi vì trong Phật giáo không có vấn đề Ðấng Sáng

    Tạo. Theo tác giả, cũng nên chấp nhận việc lai tạo vô tính, khi nó nhằm
    muc tiêu trị liệu y khoa và làm giảm đi những đau khổ của con người. Ở
    cuối chương sách có đặt vấn đề nên cải thiện cá nhân trong đời sống đạo
    đức hàng ngày, hơn là âu lo đến các căn nguyên của vũ trụ hay cấu tạo vật
    chất. Sự tìm hiểu về ngoại giới cũng chỉ là phương tiện giúp đỡ đưa đến sự
    giác ngộ và giải thoát cá nhân mà thôi. Tất cả suy luận của Phật tử đều phảì
    dựa trên sự quan sát thực tai và những kinh nghiệm cá nhân, trực tiếp: vấn
    đề không phải tin một cách giáo điều mà cần có một nhận thức làm khởi
    điểm cho niềm tin.
    Chương 2 đặt vấn đề có hay không sự khai nguyên vũ trụ. Ðây là một
    bận tâm lớn cho các khoa học và các tôn giáo. Sự hình thành và tiến hóa
    của vũ trụ được giải thích qua lý thuyết Ðại bùng nổ (Big Bang). Theo cách
    nhìn của các nhà khoa học thì vũ trụ trước tiên được bùng nổ cách đây 15 tỷ
    năm, từ trong phân tử ở trạng thái cực nhỏ, nóng và dày bị dồn nén. Dần dà
    qua thời gian vũ trụ được bành trướng, liên tục tan loãng và đông lạnh.
    Trong khi đó căn nguyên của vũ trụ không là một đề tài lớn trong Phật giáo.
    Ðiểm chủ yếu người học đạo Phật nên chuyên tâm là tìm hiểu thực tế về
    những gì đã và sẽ đến trong cuộc sống để từ đó tìm ra một chân lý tốí hậu
    cho đời sống cá nhân mình. Nỗ lực tìm kiếm này không liên hệ đến sự khai
    sinh hay tận thế cũa vũ trụ. Sự tương phản này nêu lên được tính cách hư ảo
    của thế giớí hiện tượng theo cách nhìn của Phật giáo. Những tư tưởng chính
    về triết học Tính Không và trạng thái vô thủy vô chung của vũ trụ được giải
    thích. Theo đó thì những ý niệm về khai nguyên và tận thế của vũ trụ là
    những vấn đề thuộc về chân lý tương đối mà thôi. Trong khi ta đi tìm kiếm
    giá trị tuyệt đối, thì vấn đề này không còn có ý nghĩa gì. Một điểm dị biệt
    được nêu lên là: khi nhà khoa học đề cập tới vũ trụ, phải được hiểu đây là
    một thực tại khách quan, độc lập vơí ý thức, trong khi đó Phật giáo không
    nhìn vũ trụ như một thành phần hoàn toàn độc lập vớ ý thức, mà đặt mối
    liên hệ này vòng luân hồi liên tục.
    Chương 3 đề cập tới vấn đề có một nguyên lý tổ chức cho vũ trụ hay
    không. Câu hỏi là vũ trụ hoàn toàn vô nghĩa hay là trật tự của nó được sắp
    xếp một cách tuyệt hảo bởi một bàn tay vô hình nào đó, nhờ đó mà đời sống
    và ý thức mới có được.Theo quan điểm cùa Phật giáo thì vũ trụ là một luận
    điểm siêu hình và lý thuyết Ðại bùng nổ chỉ giải thích được một giai đoạn
    trong một quá trình liên tục của vũ trụ. Thế giới hiện tượng và ý thức cộng
    sinh nhau và cũng không loại trừ nhau trong thời gian theo nguyên lý vô

    thủy vô chung. Chính vì thế mà vấn đề tìm ra lời giải thích cho sự dung hợp
    này không là điều không cần thiết. Vấn đề toàn năng và toàn trí của Thượng
    Ðế trong việc sáng lập vũ trụ được hai tác giả thảo luận. Lập luận tin có
    Ðấng Sáng Tạo thế gian rất đơn giản: vũ trụ cũng như một cái đồng hồ.
    Ðồng hồ chỉ là công trình của người thợ làm đồng hồ, các bộ phận của đồng
    hồ tự nó không trờ thành đồng hồ được. Lập luận khoa học ngược lại đặt
    vấn đề sự tạo lập thế gian cùa Thượng Ðế nằm trong quy luật của thời gian
    hay ngoài thời gian. Ðiều quan trọng là thời gian thì tương đối, như Einstein
    đã tìm thấy. Như vậy Thương Ðế cũng phải chịu chi phối bởi quy luật thởi
    gian. Ðiều này có nghĩa là Thượng đế không còn toàn năng nữa. Nếu cho
    rằng Thượng Ðế ở ngoài thời gian thì Thượng Ðế cũng sẽ không còn cứu
    rỗi được chúng ta bới vì hành vi của chúng ta bị hạn chế trong thời gian. Lý
    thuyết của Spinoza cũng được đề cập đến: nguyên tắc tạo lập vũ trụ chỉ chi
    phối ở giai đoạn phôi thai và Ðấng Sáng Thế cũng không thể được nhân
    cách hoá. Vấn đề đặt ra ở cuối chương sách là làm sao Phật giáo có thể
    dung hòa với các tôn giáo khác, khi Phật giáo coi Ðấng Sáng Thế là một ý
    niệm siêu hình. Tuy Phật giáo không chia sẻ những ý niệm này, nhưng luôn
    tôn trọng những giáo lý của các tôn giáo khác. Phật giáo cũng không mơ
    ước trộn lẫn các ý niệm của các tôn giáo khác nhau để mơ lập thành một tôn
    giáo đại đồng. Nếu như trong thực tế đời sống hằng ngày ai cũng đều mong
    tìm cho mình một thức ăn thich hợp khẩu vị cho cơ thể thì người ta cũng
    nên tìm tương tự như vậy cho đời sống tâm linh. Ðiều quan trọng là làm sao
    người ta tu tập để hướng thượng và trở thành những người lương thiện và
    đầy tính từ bi.
    Câu hỏi trong Chương 4 là sự tương thuộc và tổng thể của thế giới hiện
    tượng, cụ thể là các vật chất trong thế giới hiện tượng được hình thành hoàn
    toàn độc lập hay là liên kết và tương thuộc nhau trong một tổng thể. Theo
    Phật giáo, sự hình thành thế giới hiện tượng không bắt nguồn từ những
    nguyên nhân độc lập và những hoàn cảnh chuyên biệt. Sự cảm nhận này là
    một sai lầm. Kinh nghiệm thực tế của đời sống hằng ngày cho thấy vật chất
    là những thực tại độc lập khách quan, mỗi vật chất đều có một thực thể nội
    tại của nó. Nhưng đây là một cách nhìn quá đơn giản, mà không thấy được
    mối liên hệ nhân quả trong thế giới hiện tượng một cách tổng thể. Tất cả
    mọi yếu tố đều tương thuộc lẫn nhau, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này
    diệt thì cái kia sẽ diệt. Ý niệm tương thuộc này liên hệ đến triết học Tính
    Không trong Phật giáo. Cũng xin đừng hiểu Tính Không là hoàn toàn phủ

    nhận thế giới hiện tượng hay chỉ là hư vô chù nghĩa cùa Tây phương. Phật
    giáo nhìn thế giới hiện tượng như là sự diễn biến tương thuộc nhau và liên
    tục theo mối liên hệ nhân quả. Vấn đề tương thuộc này trong khoa học cũng
    được giải thích qua các luận thuyết của Einstein, Podolsky và Rosen (EPR),
    1935. Những thí nghiệm của John Bell năm 1964 và gần đây của Nicolas
    Gisin năm 1998 về chức năng của quang tử đã soi sáng thêm vấn đề. Thí
    nghiệm về quả lắc của Foucault từ 1851 cũng đã đưa ra một ý niệm quan
    trọng: tất cả những gì xảy và diễn ra ở đây và hôm nay đều tùy thuộc vào
    toàn thể vũ trụ. Nguyên lý của Mach cũng bổ túc thêm là: khối lượng của
    một vật thể bắt nguồn từ những ảnh hưởng của vũ trụ. Hai khảo hướng khác
    nhau cùng đi chung một kết luận: sự tương thuộc lẫn nhau giữa con người
    và vũ trụ trong thế giới hiện tượng. Từ đó con người có một nhận thức mới,
    đó là ý thức về trách nhiệm đại đồng trưóc mối liên hệ này. Có ý thức này
    thì con ngưới mới dẹp bỏ lòng ích kỷ, hưóng về tha nhân cùng xây đắp một
    hạnh phúc chung và đặt biệt là không gây đau khổ cho kẻ khác, thực hiện từ
    bi. Ðó là một chuyển hoá nội tâm đưa lần đến giác ngộ. Vũ trụ quan này
    đuợc diễn đạt qua lời thơ của William Blake dùng làm tựa đề cho tác phẩm
    như sau:
    Voir un univers dans un grain de sable
    Et un paradis dans une fleur sauvage
    Tenir l'infini dans dans la paume de la main
    Et l'éternité dans une heure
    Dich xuôi:
    Nhìn vũ trụ trong một hạt cát
    Và thiên đàng trong một cành hoa hoang dại
    Nẳm giữ vô tận trong lòng bàn tay
    Và vĩnh cửu trong phút giây
    Dịch thơ:
    Trong hạt cát ta ngắm nhìn vũ trụ
    Nhìn thiên đàng giữa hoa dại hoang sơ
    Ôi thiên thu lắng đọng chỉ một giờ
     Giữ vô tận trong bàn tay bé nhỏ
    (Bản dịch thơ của Lê Cao Bằng Calgary, Canada)
    Chủ đề của Chương 5 là tìm ra lời giải thích cho sự hiện hữu của các
    phần từ sơ đẳng (les particules élémentaires) trong Phật giáo và Khoa học.
    Phật giáo cũng quan tâm tới vấn đề khoa học này nhưng những lời giải

    thích hầu như không gây được những hậu quả sâu xa. Khi tìm hiểu về
    những thực tại hay hư ảo của cuộc đời vây quanh, vấn đề là phải làm sáng
    tỏ đâu là bản chất của những gì đã cấu tạo nên những viên gạch nền móng
    này. Ðể giải thích về tính cách tổng thể của thế giới hiện tượng một thí dụ
    được nêu lên: bản chất của ánh sáng. Nguyên tắc bổ sung (principe de
    complémentarité) của Niels Bohr được giải thích: ánh sáng vừa là làn sóng
    và vừa là phân tử. Ánh sáng không thể nào có một thực tại nội tại tuyệt đối
    hoặc là phân tử hoặc là làn sóng. Ðiều này tùy thuộc vào môi trường và
    phương thức thử nghiệm. Ðó cũng là ý niệm chính trong nguyên tắc bất
    định (principe d'incertitude) của Heisenberg. Khi nghiên cứu về điện tử
    (electron), thì ông cho rằng không thể nào xác định tuyệt đối được vị trí và
    tốc độ của điện tử. Những thành quả nghiên cứu của trường phái
    Copenhague được tóm lược qua kết luận: những nguyên tử tạo nên một thế
    giới của những tiềm năng hay những khả năng hơn là những thế giới của
    vật chất và những sự kiện. Ý niệm về nguyên tử được vay mượn để giải
    thích vể thế giới hiện tượng. Bohr cũng xác nhận sự khó khăn khi làm sao
    vượt qua được những sự kiện và những kết quả thử nghiệm: sự mô tả của
    chúng ta không nhằm soi sáng những đặc điểm thực tế của hiện tượng, mà
    phải tìm ra những tương quan của các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống
    của chúng ta càng nhiều càng tốt. Những lập luận của Jacob, Schrödinger,
    Einstein và Stapp được giới thiệu, nhưng quan trọng nhất là của Nottale.
    Nottale xác nhận là Phật giáo từ 2500 năm trước đã tìm thấy sự hiện hữu
    của vật chất là tương đối, vấn đề là làm sao tìm ra những mối quan hệ trong
    thế giới này.
    Chương 6 đề cập tính cách vô thường trong thế giới hiện tượng. Ðây
    không chỉ là một đề tàì để trầm tư mặc tưởng mà còn là một động lực giúp
    chúng ta sử dụng thời gian còn lại của đời mình hữu ích hơn. Sự tìm hiểu
    của chúng ta về thực tại tùy thuộc vào viễn kiến về thế giới và thái độ của
    chúng ta. Câu hỏi đặt ra: có hay không những thực thể thường hằng (les
    entités permanentes) trong vũ trụ? Nếu không có gì vĩnh cửu tại sao chúng
    ta lại có thể gọi những sự vật có một đời sống cố hữu (une existence
    intrinsèque)? Những ý niệm vô thường trong đời sống được đề cập. Sự thay
    đổi này được thể hiện qua quy luật sanh lão bệnh tử, trong thay đổi của cảm
    xúc. Ðìểm tinh tế nhất phải nhận ra là trong từng phút giây của đời sống
    cũng có sự thay đổi. Những biến dạng của những phân tử và về cách nhận
    dạng các phân tử này qua cách sử dụng 18 loại quarks khác nhau được giải

    thích. Lý thuyết tiêu chuấn (theorie standard) nhằm chứng minh tính cách
    bất tử của các phân tử, đặc biệt là dương tử (proton) được đề cập. Tính bất
    tử này phải hiểu khi so sánh với đời sống của con người, nhưng nó có thể
    biến dạng qua thời gian. Trong nỗ lực tìm ra một sự mô tả mới về những
    hiện tượng của vũ trụ thuyết siêu lực (théorie de superforce) được giải
    thích. Ðây là một tổng hợp các giả thuyết trước đây. Theo đó thì những
    phân tử không phải là những phần tử sơ đẳng, mà chính là những chấn động
    trên những sợi dây được gọi là supercorde. Chính năng lượng của những
    chấn động này mới xác định được khối lượng của những phân tử. Ðây còn
    là một luận điểm mơ hồ, cần được kiểm chứng bằng thực nghiệm.
    Chương 7 đề cập tới vấn đề làm sao ta có thể hiểu thực tại của thế giới
    hiện tượng, khi nó được che đậy bởi những lớp màn chắn bên ngoài. Ðối
    với khoa học thì vấn đề này được nhận chân bằng giả thuyết và thử
    nghiệm.Thật ra có ít nhà khoa học quan tâm sâu xa đến những nền tảng triết
    lý cùa những công trình mà họ đang theo đuổi. Những áp dụng thực tìễn
    trong đời sống về những thành tựu của lãnh vực cơ học lượng tử (la
    mécanique quantique) đã cho thấy vấn đề này. Chính d'Espagnat cũng xác
    nhận là khoa học có thể mô tả được những thực tại được thử nghiệm. Kết
    quả này cũng chỉ là những khái luận về một thực tại độc lập không ghi lại
    được trong không và thời gian. Một đặc điểm khác: đối tuợng quan sát hoàn
    toàn lệ thuộc vào vị trí và thái độ của nhà quan sát, điển hình là sự quan sát
    cầu vòng. Cầu vòng là một hình ảnh mà Phật giáo hay dùng đến để diễn tả
    tính cách hư thực và tương thuộc của thế giới hiện tượng. Ai cũng thấy cầu
    vòng chiếu sáng nhưng không ai có thể bắt lấy được, nên nó vừa là hư vừa
    là thực. Cầu vòng chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên của hai yếu tố: lớp màn
    mưa và ánh sáng mặt trời, nếu thiếu một, thì cầu vòng sẽ biến mất, nên nó
    tương thuộc. Vấn đề nhận chân ra thế giới hiện tượng có hai khía cạnh: bản
    chất tối hậu của hiện tượng và phương cách mà chúng ta cảm nhận được
    hiện tượng này. Khi ta nhận ra được đâu là bản chất tối hậu của hiện tượng
    thì sự dị biệt của thế giới hư ảo và hiện thực sẽ không còn nữa.
    Chương 8 đặt vấn đề định mệnh để thảo luận, thí dụ như có hay không
    có định mệnh, định mệnh cá nhân và định mệnh tập thể, ý nghĩa về nghiệp
    (karma), đâu là mối liên hệ nhân quả và định mệnh. Một câu hỏi khác: nếu
    con người và bản ngã chỉ là hư ảo thì làm sao có thể chuyển hoá được cuộc
    sống trong hiện kiếp? Karma theo tác giả phải được hiểu là hành động.
    Những gì chúng ta suy nghĩ, nói và hành động sẽ tạo nên khuôn mẫu cùa

    cuộc đời chúng ta. Ðiều này bắt nguồn từ sự cảm nhận của chúng ta đối với
    cuộc đời, nó đến từ ý thức, kinh nghiệm cá nhân về đời sống. Dĩ nhiên sự
    cảm nhận này hoàn toàn khác biệt trong từng cá nhân. Một ngưòi đạt đạo
    rồi sẽ thấy những ràng buộc trong thế giới hìện tượng là điều hư ảo. Nghiệp
    cũng không phải là định mệnh, nó chỉ là một phản ảnh về mối quan hệ nhân
    quả, không chỉ trên hành động mà có ý hướng đưa tới hành động. Chúng ta
    không bao giờ hoàn toàn lệ thuộc vào định mệnh như những tù nhân, mà
    trong đó quá khứ và tương lai làm thành một khối liền chắc. Bằng tự do và
    ý thức người ta có thể chuyển nghiệp này. Chúng ta là kết quả của những
    quyết định mà chính chúng ta chọn lựa, dĩ nhiên là rất khó khăn khi nỗ lực
    thoát ra khỏi căn nghiệp. Ý niệm này được Norbert Wiener cha đẻ của khoa
    học cybernétique diễn đạt như sau: Chúng ta chỉ là những ổ xoáy nước
    trong một dòng sông vô tận. Chúng ta không là những bản thể trường tồn,
    nhưng những dấu vết sẽ còn lưu lại mãi.
    Chủ đề của Chương 9 là ý niệm về thời gian qua các lăng kính. Theo
    Galilée thì thời gian là một dụng cụ chủ yếu để xếp đặt và nối kết các sự đo
    lường về các chuyển động trong các đối tượng nghiên cứu một cách toán
    học. Nhưng Newton với quy luật về cơ học đã đưa ra một định nghĩa chính
    xác về thời gian.
    Theo Newton sự chuyển động các vật thể trong không gian xác định
    được vị trí và tốc độ của nó nhờ vào những khoảnh khắc thời gian tiếp nối
    nhau. Qua định nghĩa này thì đặc điểm của thời gian là độc nhất, tuyệt đối
    và phổ quát. Lý thuyết này bị đánh đổ bởi lập thuyết tương đối của Einstein.
    Thời gian thì theo Einstein co dãn và tùy thuộc không gian. Ngoài ra
    Einstein còn cho rằng không gian và thời gian không thể sống tách rời nhau,
    cả hai là một cặp kết hợp nhau. Einstein còn phát hiện thêm trong lý thuyết
    tương đối tổng quát của ông: Thời gian không những chậm lại bởi vận tốc
    mà còn chậm lại bởi trọng lực. Phật giáo nhìn vấn đề thời gian khác hơn.
    Thời gian vật lý chỉ là một phương cách để tìm hiểu vể thế giới hiện tượng
    thôì. Ý niệm thời gian và không gian chỉ có trong thế giới hiện tượng và có
    mối quan hệ với những kinh nghiệm với những hệ thống đối chiếu với nó.
    Thời gian trôi là một điều không nắm bắt được trong phút giây hiện tại.
    Trong phút giây hiện tại thì quá khứ đã chết và tương lai thì chưa xảy ra.
    Theo cách nhìn này thì làm sao mà hiện tại có thể hiện hữu hoặc ngưng
    đọng ở giữa cái không còn nữa và cáí chưa thể xảy ra. Ý niệm về thời gian
    chỉ là chân lý tương đối trong thế giới hiện tượng mà thôi. Những ý niệm

    khác nhau vể thời gian qua quan điểm của Heraclite, Saint Augustin,
    Aristote, Kant và Husserl được hai tác giả đưa ra giải thích. Nhiều kinh điển
    Phật giáo được trích dẫn trong trong chương này để giải thích về ý niệm
    thời gian. Phật giáo dùng thời gian như một quan điểm tâm lý nhằm chế
    ngự những nỗi lo âuvề cái chết và khuyến khích người ta nên chuyên cần tu
    tập. Ý thức được thời gian trôi là quí giá nên người học Phật sẽ luôn luôn
    tập trung để tu tập, nhưng cũng không sống trong nỗi ám ảnh về cái chết,
    mà chỉ suy tưởng không ngừng về việc này nhằm chuẩn bị đón nhận nó đến
    trong thanh thản an lạc.
    Chương 10 giải thích thuyết nhân quả theo Khoa học và Phật giáo. Lý
    thuyết tương đối của Einstein đã đưa ra nhiều luận điểm mới, mà theo đó
    nguyên tắc về nhân quả cũng cần được xét lại. Không có gì đi nhanh hơn
    ánh sáng và chính ánh sáng cũng là một phương tiện truyền thông nhanh
    nhất trong vũ trụ, theo Einstein. Hai biến cố chỉ có liên hệ nhân quả với
    nhau khi mà ánh sáng có đủ thời giờ mang biến cố thứ nhứt đến biến cố thứ
    nhì trong khi sự cách biệt của thời gian làm tách biệt chúng ra. Ðiều này
    giải thích được mối liên hệ nhân quả của hai biến cố và đồng thời cũng giải
    thích được tốc độ của ánh sáng. Một thí dụ được nêu lên để soi sáng vấn đề.
    Một tia sét đánh trên hai đầu toa xe lửa đang chạy, ba người A, B và C quan
    sát hiện tượng này sẽ giải thích ba cách khác nhau, tùy thuộc vào vị trí mà
    họ đang theo dõi. Nếu A đứng yên trên sân ga thì A sẽ thấy tia sét đánh
    cùng một lúc phía trước và phía sau của toa xe, nếu B ngồi trong toa xe
    đang chạy thì B trước tiên sẽ thấy tiếng sét đánh phía trước của xe rồi liền
    sau đó sẽ thấy tiếng sét đánh phía sau. Lý do giải thích hiện tượng này là xe
    đang di chuyển, ánh sáng của tia chớp phía trước ít khoảng cách hơn tia
    sáng phía sau. Vận tốc của ánh sáng thì không thay đổi, nhưng ánh sáng đến
    phía trước thì cần ít thời gian hơn phía sau. Còn nếu C ngồi trên một xe
    chạy ngược chiều thì sẽ thấy ngược lại điều B chứng kiến. Thí dụ này cho
    thấy là những biến cố khi xảy diễn qua sự liên tục của thời gian có thể bị
    biến dạng do những chuyển động. Theo đó thì kết quả có thể đi trước
    nguyên nhân. Những ý kiến liên quan đến thuyết tất định trong khoa học (le
    déterminisme scientifique) qua ý kiến của Heisenberg, Foucault, Newton
    Laplace, Poincaré và Hegel được đề cập tới. Khó khăn lớn nhất của khoa
    học là không thể nào tiên đoán tương lai một cách chính xác bởì vì sự mô tả
    cũng như hiểu biết về điều kiện ban đầu của hiện tượng không bao giờ đầy
    đủ. Trong khoa học cũng không có sự tình cờ hay tất yếu, mà chính ra

    những nguyên nhân hay điều kiện thì vô kể mà ta không biết trước được.
    Theo Phật giáo thì thuyết nhân quả là điều hiển nhiên và quy luật được diễn
    biến qua bốn hình thái phát sinh như sau: một vật có thể sinh ra (1) bởi tự
    nó, (2) bởi sự vật khác, (3) bởi tự nó và bởi sự vật khác hoặc (4) không bởi
    tự nó hoặc không bởi sự vật khác. Dù dạng thái nào thì nhân và quả phải có
    một điểm nối kết nhau để tạo thành mối quan hệ, chớ không thể nào là
    những thực tại độc lập.
    Chương 11 xoay quanh vấn đề mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất
    qua Khoa học và Phật học.Theo khoa Sinh học thần kinh (la neurobiologie)
    thì tinh thần nảy sinh từ sự tác động lẫn nhau giửa cơ thể và thế giới bên
    ngoài và là kết quả của một tổ chức cực kỳ phức tạp từ những phần tử bất
    động (les particulesinanimées). Như vậy phải chăng là tinh thần chỉ là một
    sự phàn ảnh của vật chất. Trả lời câu hỏi này Phật giáo có một lối giải thich
    khác hơn. Có ba trạng thái của tinh thần: tinh thần ở trình độ thứ nhất thì
    thô sơ, chỉ thuần túy là sự vận động của não bộ, ở trình độ thứ hai thì tinh
    thần có khả năng phản tỉnh bằng suy luận và trực giác để quyết định vấn đề,
    và ở trình độ thứ ba thì tinh thần đạt được sự hiểu biết thuần khiết không
    dựa trên phương thức phân biệt chủ quan và khách quan hay trên những tư
    tưởng suy lý. Ðây là trạng thái cao nhất của tinh thần còn được gọi là sự
    minh mẫn. Ba trạng thái này không hoạt động độc lập mà ảnh huởng nhau
    qua mối liên hệ nhân quả trong thể xác. Một trạng thái tinh thần này đều bắt
    nguồn từ một trạng thái tinh thần khác xảy ra trước đó. Từ nhân sinh ra quả
    là một quá trình nảy sinh được kết hợp qua mối liên hệ chù yếu và những
    yếu tố phụ thuộc. Thí dụ hạt giống được sinh ra là kết quả của việc nẩy
    mầm, đây là mối quan hệ chủ yếu, nhưng cũng đừng quên những yếu tố phụ
    thuộc là thời tiết và độ ẩm. Tinh thần nhị nguyên theo lý thuyết của
    Descartes cũng được đem ra so sánh với quan điểm của Phật giáo và
    nguyên tắc bổ sung của Niels Bohr cũng là một lối giải thích. Ý niệm về
    một thế giới vô hình và hữu hình cũng được đề cập tới. Phần quan trọng
    nhất của chương này là bàn về vai trò của tinh thần trong đờì sống, đặc biệt
    là những kinh nghiêm về cận tử (near death experience) và một câu chuyện
    có thật về luân hồi của Shanti Dévi tại Ấn Độ được dẫn chứng.
    Chương 12 đặt vấn đề so sánh giữa người máy (robot) và máy vi tính
    (ordinateur) với não bộ của con người. Vấn đề khả năng phản tỉnh của con
    người được đưa ra để so sánh với những tiến bộ của ngành sinh học hiện đại
    cũng như những luận điểm mới trong lãnh vực thông minh nhân tạo

    (intelligence artificielle). Theo các nhà sinh học thì bộ óc chỉ là một bộ máy
    suy nghĩ được cấu tạo bởi những hoạt động trong một hệ thống thần kinh
    tổng hợp. Những gì gọi là tinh thần đều đến từ những tổ chức càng ngày
    càng phức tạp hơn của não bộ. Những gì được gọi là ý thức, tư tưởng hay
    tình yêu và những cảm xúc trong cuộc sống đều là những kinh nghiệm sống
    đã trải qua. Trong khi đó thì Francisco Valera chú ý đến sự tương tác cúa
    não bộ và thế giới bên ngoài. Chính sự tác động thường xuyên của môi
    trường mới là quan trọng. Hoạt động của hệ thần kinh được đem ra so sánh
    với cấu trúc của một máy vi tính (ordinateur) và được xem như là cương
    liệu (hardware) trong khi tinh thần được coi như là nhu liệu (software).
    Ðiểm dị biệt chủ yếu vẫn là máy móc chỉ tính toán và làm việc theo những
    chương trình đã quy định do nhà thảo chương cung cấp không hơn không
    kém, mà nó không có ý thức phản tỉnh để trả lời câu hòi tại sao mình có thể
    đưa đến kết quả như vậy. Ðiều đáng kinh ngạc ở đây là khả năng tính toán
    của máy móc vượt hẳn xa con người. Trong trận đánh cờ của vô địch thế
    giới Garry Kasparow và người máy Deep Blue trong năm 1997 đã cho thấy
    vấn đề này. Deep Blue thắng được là nhờ có thể nghĩ ra 200 triệu vị thế cờ
    trong một giây và từ đó tổng hợp ra được 10 thế cờ liên tiép, trong khi bộ óc
    của con người với kinh nghiệm và sự tính toán, đặc biệt là trực giác chỉ tìm
    đươc vài nước cờ trước mà thôi. Nhưng cuộc thắng cờ cũng chỉ là sự tuân
    lịnh mù quáng của Deep Blue qua những chương trình đã soạn trước của
    các chuyên viên. Deep Blue cũng không vui khi thắng, không buồn khi
    thua, không hồi hộp khi tính toán và cũng không nuối tiếc khi đi sai một thế
    cờ, vì Deep Blue dầu sao đi nữa cũng chỉ là máy mà thôi. Jean- Pierre
    Cheanguex cho rằng máy móc chưa có cảm xúc như con người vì chính ra
    con người chưa đủ khả năng tạo ra được một bộ óc phức tạp cho máy như
    hệ thần kinh con người. Bộ óc con người hiện nay là kết quả của một sự
    tiến hoá hơn một tỷ năm trong khi máy vi tính chì xuất hiện từ thập niên 50
    của thiên niên kỷ trước. Alain Turing đã đưa ra cách thí nghiệm mới về sự
    thông minh của người máy. Ông cũng tiên đoán rằng trong tương lai người
    máy có thể đánh lừa đươc người đối thoại với mình trong 5 phút. Các nhà
    nghiên cứu trong lãnh vực này cho là một ngày nào đó không xa máy vi
    tính và người máy cũng sẽ có cảm giác thương yêu buồn giận như con
    người. Nhưng những câu hỏi nền tảng như: tôi từ đâu đến, sống để làm gì
    và chết sẽ ra sao thì người máy khộng thể tự hỏi và trả lời được. Một câu
    hỏi dễ hiểu nhất mà người máy cũng không biết được là thân phận mình sẽ

    ra sao khi cúp điện. Sự tiến hóa của ý thức qua hai dạng thái: ý thức sơ khởi
    và ý thức phản tỉnh, luận điểm này đươc hai tác giả bàn đến trong mối quan
    hệ với Phật giáo ờ cuối chương. Những kinh nghiệm mà chúng ta có được
    về tinh thần, những khả năng mà chúng ta có thể hiểu được bản chất của
    tinh thần qua phương pháp nội suy hay chế ngự tinh thần bằng cách coi nó
    như một đối tượng nghiên cứu nội quan vẫn chưa được khoa học giải thích
    thoả đáng. Những điều bàn đến chỉ nằm phản ảnh được vấn đề trong chân lý
    tương đối mà thôi. Những suy lý, hy vọng hay lo âu đưa chúng ta tới quyết
    định này hay quyết định khác vẫn nằm trong phạm vi cùa thế giới vô minh
    và mê ảo. Chúng ta vẫn còn lầm lạc trong những luồng tư tưởng mà chúng
    ta cho là thực tại. Chính Giác ngộ mới là kiến thức duy nhất vượt qua sự
    lầm lẫn này, không có căn cứ trên ý niệm, vì ý niệm hoàn toàn bất lực trước
    những bản chất tối hậu cúa tinh thần.
    Chương 13 đề cập tới ý niệm về tinh thần trong mối quan hệ với vũ trụ
    qua Khoa học và Phật giáo. Theo Phật giáo tinh thần và vũ trụ cộng sinh và
    cộng hưỏng nhau, không thể nào có một cuộc sống riêng biệt, cả hai chỉ
    hiện hữu trong thế giới hiện tượng và chì có giá trị chân lý tương đối. Theo
    ý kiến của các nhà sinh học hiện đại thì tinh thần đưọc trải qua hai giai đoạn
    từ không ý thức đến có ý thức. Phật giáo cũng không hẳn đi ngược lại lý
    thuyết về tiến hoá, nhưng [lại cho rằng?] qua sự tiến hoá của thế giới súc
    vật đến thế giới của con người thì khả năng phản tỉnh của con người là ở
    mức độ cao nhất, đặc biệt là khà năng cảm nhận hạnh phúc và đau khổ
    trong cuộc đời. Phật giáo chia thế giới làm ba loại: ước vọng, hữu hình và
    vô hình. Yếu tố quan trọng làm chuyển hóa đời sống con người là đìều kiện
    tinh thần. Chính sự thù ghét, tham lam, ích kỷ làm cản trở sự chuyển hoá
    đó. Ðó chính là màn chắn l...
     
    Gửi ý kiến

    Nhúng mã HTML