GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường THCS Quyết Thắng
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Ông Già và Biển Cả - Ernest Hemingway & Mặc Đỗ (dịch)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:59' 17-03-2024
Dung lượng: 419.6 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 20h:59' 17-03-2024
Dung lượng: 419.6 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
ERNEST HEMINGWAY
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
(Bản dịch của Mặc Đỗ)
VĂN NGHỆ
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
ERNEST HEMINGWAY
MẶC ĐỖ dịch
Trình bày Cao Xuân Huy
Bìa Khánh Trường
Văn Nghệ xuất bản 1998, USA
ISBN: 1-886566-43-7
Copyright © 1998 by Van Nghe
VỀ NHỮNG NHÂN DANH, ĐỊA DANH TRONG SÁCH NÀY
Để văn dịch được thật sự phổ cập và những bản dịch được hoàn toàn quốc
ngữ hóa như của Trung Hoa, Nhật Bản, dịch giả đề nghị áp dụng trong bản
dịch này việc phiên âm những nhân danh, địa danh. Phương pháp đề ra
chưa chắc đã hoàn hảo; dù sao ta cứ bước một bước đầu.
NGUYÊN TẮC CHUNG
1. Nhân danh, địa danh của nước nào thì phải cố gắng phiên âm theo
đúng âm của nước đó.
2. Những danh từ đã quá quen thuộc nên giữ lại. Thí dụ: Anh, Pháp, Nga,
Mỹ… Nhưng nếu phiên âm đúng hơn và sẽ tiện dụng hơn thì nên đổi:
Pari hơn Balê.
PHƯƠNG PHÁP
1. Viết dính các âm. Viết rời nếu danh từ gốc viết rời. Cố giữ để khỏi xa
với cách viết (theo mẫu tự latinh) của danh từ gốc. Thí dụ: không thay
S bằng X (Sanhtơny chớ không Xanhtơny).
2. Không phân biệt cách đọc S và X, nhưng để phiên âm vần CH (Pháp)
hay SH (Anh) dùng vần SH. Thí dụ: Shinông.
3. Chấp nhận âm S câm. Thí dụ: Côngstăngtanh, Stăngbun.
4. Chấp nhận thêm những vần không dùng trong Việt ngữ nhưng người
Việt phát âm được: Bl, Br, Cl, Cr, Đr, (đơrơ), F (phơ), F1 (phơlơ), Fr
(phơrơ), J (thay cho vần GI để khi đọc khỏi lẫn, thí dụ: Anjêri dễ đọc
hơn Angiêri vì có thể lầm thành Angi-êri), Kl (Cơlơ), Kr (cơrơ), Z.
5. Cố gắng phiên âm đầy đủ các âm của danh từ gốc, nhưng tránh dùng
dấu Việt ngữ để nhấn mạnh nếu không cần thiết lắm, tuy gặp danh từ
gốc cố ý nhấn mạnh vẫn cần giữ cho đúng với nguyên tắc chung. Thí
dụ: Odessa có thể viết Ôđesa, nhưng Madagascar phải viết Mađagátca.
LỜI NGƯỜI DỊCH
Đem kinh nghiệm bản thân gửi vào tác phẩm, chủ đích nghệ thuật đó
Ernest Hemingway đã giải bày trong cuốn The Snows of Kilimanjaro: một
nhà văn khi hấp hối nhớ lại những mẩu đời của mình đã toan để dành đưa
vào trong truyện. Toàn thể những tác phẩm đã xuất bản của Hemingway
đều là những vang bóng của những quảng thời gian mà chính tác giả đã
từng sống. Thời thơ ấu ở Michigan (In Our Time), kỳ đại chiến thứ nhất
trong quân đội Ý (A Farewell to Arms), huấn luyện viên võ thuật (Fifty
Grend), dự đấu bò tại Tây Ban Nha (The Undefeated), sáu năm sống cuộc
đời ly hương tại Montparnasse, Paris (The Sun Also Rises), tham gia nội
chiến Tây Ban Nha trong hàng ngũ dân chủ (For Whom The Bells Toll),
Cuốn Ông già và Biển cả (The Old Man and the Sea) chúng tôi trình bày
cùng độc giả, rút ở những nhận xét tại chỗ hồi ông ở Key West, tận cùng
mỏm Florida, thường đi theo dân chài ra khơi.
Bằng chứng vào cuộc đời và những tác phẩm của Hemingway ta có thể nói
không ngoa rằng nếu ông ở yên một chỗ ông sẽ không thể viết được. Trong
một cuộc du lịch tại Phi-châu, ông và bà vợ cùng đi trên một chiếc máy bay
riêng và mất tích giữa rừng rậm, báo chí thế giới đã sửa soạn bài ai điếu
thì hai vợ chồng ông lại tìm về được không một chút thương tích.
Tuy Hemingway sống rất nhiều, nhân vật trong tiểu thuyết của ông thường
biểu lộ tâm trạng trơ trọi của con người bất phùng thời. Trơ trọi vì kiêu
hãnh từ chối đầu hàng, không chịu phó mặc cho số phận. Ông lão đánh cá
trong thiên truyện này là một thể hiện đặc sắc của sự trơ trọi kiểu
Hemingway. Bị người đời rẻ rúng ông lão vẫn cương quyết đi con đường
của mình cho trọn, chống trả kịch liệt cho đến thành công, rồi lại đem hết
sức tàn ra đương đầu với Định Mệnh, không một lời ta oán, tin ở mình cho
đến cùng.
ó một lão ông, một mình trên chiếc thuyền, lênh đênh đánh cá giữa
dòng Loan-lưu, tám mươi bốn hôm ròng không được lấy một con cá.
Trong bốn chục hôm đầu có một cậu bé đi theo ông lão. Nhưng sau
bốn chục ngày không được một con cá, cha mẹ cậu bé bảo với cậu bé rằng
ông lão đã hoàn toàn hết lộc không còn chút may mắn nào nữa. Cậu bé
được đưa sang chiếc thuyền khác, ngay tuần lễ đầu đã đánh được ba con
cá lớn. Từ đó cậu bé ngày ngày buồn rầu ngó ông lão ghé về với chiếc
thuyền không và thường chạy ra đón ông lão, đỡ tay ông lão mang mớ dây
câu cuốn tròn, chiếc sào móc, cây lao hay tấm buồm cuộn cùng với cọc.
Tấm buồm rách vá bằng những bao bột cũ, cuộn lại chẳng khác gì lá cờ
thất bại vĩnh viễn.
C
Lão ông gầy còm, khô đét, đường nhăn trên gáy như những lát dao. Nắng
gắt giữa biển vùng nhiệt đới hắt lên làm sạm đen cả hai má. Hai tay đầy
những vết sẹo sâu hoắm do dây câu cứa phải khi giằng giựt với cá lớn mắc
ở đầu dây. Không một vết sẹo nào mới. Vết nào cũng cũ kỹ như những
đường xoi lở trên một bãi hoang vắng bóng cá.
Mọi thứ trên người ông lão đều già cằn, chỉ trừ có hai con mắt màu nước
biển, linh động và cương quyết.
Sau khi kéo thuyền lên bãi, hai người cùng leo trên dốc, cậu bé nói với ông
lão:
– Ông Săngtiagô ơi, bao giờ cháu lại đi nghề với ông được. Tụi cháu kiếm
khá tiền rồi.
Ông lão có dạy nghề biển cho cậu bé, cậu bé mến ông lão lắm.
Ông lão đáp:
– Không, cháu đi trên chiếc thuyền nhiều may mắn, cháu không nên bỏ.
– Thế ông quên hồi trước có khi hai mươi bảy ngày liền mình chẳng được
con nào, rồi bỗng nhiên trong ba tuần lễ ngày nào cũng được cá lớn?
– Ta nhớ chứ. Ta biết không phải vì thất vọng mà cháu bỏ ta.
– Tại bố cháu đấy. Cháu còn nhỏ, phải vâng lời bố cháu.
– Ta hiểu mà. Lẽ tự nhiên phải thế.
– Tại bố cháu không tin.
– Ừ. Nhưng chúng mình tin nhau chứ?
– Vâng. Ông uống với cháu một cốc bia ở quán nhé? Xong sẽ thu xếp đồ
nghề.
– Uống chứ. Bạn cùng nghề cả.
Hai người vào ngồi trong quán. Mọi người nhìn ông lão ra vẻ chế nhạo,
nhưng ông lão không lấy làm giận. Các ông già khác ngó ông lão và cảm
thấy buồn buồn. Tuy nhiên họ không tỏ vẻ gì hết và niềm nở nói chuyện
con nước, về những vùng họ đã bỏ lưới, chuyện thời tiết còn tốt hay
những điều họ nhận xét. Những bạn chài gặp may được nhiều cá đã về hết.
Cá moi hết ruột xếp đầy trên hai tấm gỗ, mỗi tấm hai người khiêng đong
đưa tiến về phía kho chứa cá đợi xe cam-nhông có thùng lạnh tới chở về
chợ Havana. Những người đánh được cá mập đã đem bán cho “xưởng cá
mập” ở bên kia eo biển. Những con cá mập được treo lên một cái móc để
moi gan, cắt vây và đánh vẩy. Sau đó thịt cá chặt thành miếng đem đi muối.
Hôm nào có gió giông, mùi ở “xưởng cá mập” nồng nặc khắp bến. Hôm
nay mùi cá chỉ thoang thoảng vì gió đã xoay qua hướng bắc rồi tắt hẳn.
Ngồi phơi nắng ở trước quán thật là dễ chịu.
Cậu bé nói:
– Ông Săngtiagô!
Ông lão tay bưng cốc đương mải nghĩ về dĩ vãng, đáp: – Hả?
– Cháu đi lấy cá nục cho ông dùng ngày mai nhé?
– Thôi, đi ra chơi dã cầu. Một mình ta chèo được rồi, còn Rôjêliô sẽ kéo
lưới.
– Nhưng cháu thích thế. Cháu không được làm bạn chài với ông nhưng
cháu muốn có cách nào đỡ tay cho ông.
– Cháu đã cho ta uống bia. Cháu thành người lớn rồi đấy.
– Lần đầu tiên đi nghề với ông cháu lên mấy nhỉ?
– Lên năm, lần đó cháu suýt chết. Cháu còn nhớ không, hôm ấy ta kéo con
cá lên quên không quần cho nó mệt, tý nữa thì đi đời cả thuyền.
– Cháu còn nhớ cái đuôi nó quẫy, nó đập, nhớ cái ghế gãy đôi ra, nhớ tiếng
chày nện. Cháu nhớ ông hất cháu ngã nhoài lên đống lưới ướt, rung
chuyển cả thuyền lên, nhớ tiếng chày ông nện mãi như hạ một gốc cây to,
với cái mùi cá nhạt tanh tràn đầy quanh cháu.
– Có thật cháu nhớ cái cảnh ấy hay chỉ nhớ câu chuyện ta kể lại?
– Ngay từ lần dầu tiên đi nghề với ông, bao nhiêu chuyện xảy ra cháu nhớ
hết.
Lão ông đưa đôi mắt tin cậy ngó cậu bé, ánh mắt mờ dịu dưới ánh nắng.
Ông nói:
– Nếu cháu là con đẻ của ta, ta sẽ đem cháu đi, cần quái gì. Nhưng cháu
còn cha mẹ, cháu lại đương ở trên một chiếc thuyền nhiều may mắn.
– Cháu đi lấy cá nục ông nhé? Cháu biết chỗ lấy cho ông bốn bộ mồi.
– Hôm nay ta cũng hãy còn mồi, vừa bỏ vào thùng muối rồi.
– Để cháu kiếm cho ông bốn bộ còn tươi cơ.
– Một thôi.
Niềm hy vọng, lòng tin tưởng của ông lão không bao giờ phai lạt. Nhưng
nay cũng giảm sút bớt như cơn gió tắt.
Cậu bé cố kèo nài:
– Hai bộ ông nhé?
– Ừ thì hai. Nhưng cháu không lấy cắp của ai đấy chứ?
– Cần thì cháu cũng chả từ. Nhưng mấy bộ này thì cháu mất tiền mua thật.
– Cám ơn cháu lắm.
Không biết ông lão hóa ra khiêm tốn từ bao giờ. Tâm hồn ông mộc mạc
quá chẳng thấy cần phải tìm hiểu nữa. Nhưng ông tự nhận thấy rằng mình
đã tự hạ. Ông cũng không lấy thế làm hổ thẹn. Lòng kiêu hãnh bản chất
của ông, ông chưa hề mất. Ông nói:
– Trông chừng con nước này ngày mai chắc khá lắm.
Cậu bé hỏi:
– Mai ông thả lưới ở quãng nào?
– Càng ra xa càng hay, chừng nào gió ngược thì quay về. Ta phải ra khơi
trước khi mặt trời mọc.
– Để cháu xúi ông chủ cháu cũng đi khơi ngày mai. Nếu ông kiếm được
một mẻ thật lớn, chúng cháu sẽ tới đỡ tay cho ông.
– Thằng cha ấy không thích ra khơi đâu.
– Đúng đấy. Nhưng cháu sẽ kiếm cách đánh lừa hắn. Ờ, cháu sẽ giả đò
trông thấy một con chim đương ăn cá. Thế nào hắn cũng tin là có cá hồng,
và hắn bổ đi ngay.
– Mắt hắn kém đến thế cơ à?
– Gần như mù.
– Lạ nhỉ! Nhưng có bao giờ hắn đi câu ba-ba đâu? Câu ba-ba hại mắt ghê
lắm.
– Ông cũng đi câu ba-ba ở ven biển, muỗi mãi thế sao mắt ông vẫn sáng?
– Ta là một con người kỳ lạ lắm.
– Ông có thể tin rằng ông còn có thể câu được một con cá thật to không?
– Có lẽ. Phải biết mưu mẹo lắm.
– Thôi, hãy đem đồ nghề của ông về đã. Cháu sẽ mang lưới đánh cá nục đi,
thế nào cháu cũng làm được một mẻ.
Hai người thu nhặt mọi đồ vật trên thuyền. Ông lão vác chiếc cột buồm
trên vai, cậu bé mang chiếc thùng đựng mớ lưới màu nâu cuộn tròn lại với
nhau, chiếc sào móc vào cây lao. Thùng mồi để dưới đáy thuyền, ở đằng
lái, cùng với cái chày dùng để đập những cá lớn khi câu được kéo tới mạn
thuyền. Có ai tính ăn trộm của ông lão đâu, nhưng cũng phải cẩn thận cất
tấm buồm và những dây câu lớn, để phơi sương thì vứt đi ngay. Đành rằng
bạn chài chẳng ai đụng tới đồ nghề của ông lão nhưng tội gì lại bỏ chiếc
sào móc với cây lao ở thuyền để nhử người ta lấy.
Hai người đi bên nhau về phía lều của ông lão, cánh cửa lều vẫn bỏ ngỏ.
Ông lão dựng cây cột buồm bên vách; cậu bé đặt cái thùng và các đồ vật ở
cạnh. Cây cột buồm dài gần bằng cả một gian lều. Căn lều vách dựng bằng
một thứ vỏ cứng của một loại cây cọ lớn tên là guano ghép lại thành tấm.
Đồ đạc có một cái bàn và một cái ghế. Trong góc có chỗ để thổi nấu bằng
than và ở ngay nền đất nện. Trên vách màu nâu, đây đó lòi ra những mảnh
lá guano ép lại cứng đơ, có treo hai bức tranh màu, một bức hình Thánh
Tâm và một bức hình Đức Mẹ ở Côbrơ. Đó là những di vật của bà vợ ông
lão. Hồi trước trên vách còn treo cả một bức hình bà lão có tô màu, mỗi khi
trông thấy ông lão càng cảm thấy nỗi cô quạnh. Bây giờ ông lão cất bức
hình ở trên cái giá trong góc dưới chiếc áo sơ-mi sạch của ông lão.
Cậu bé hỏi:
– Hôm nay ông ăn gì thế?
– Cơm trộn với nghệ và cá. Cháu có ăn không?
– Thôi, để cháu về ăn cơm nhà. Cháu nhóm bếp nhé?
– Để lát nữa. Có lẽ ăn cơm nguội cũng được.
– Cháu lấy cái lưới đánh cá nục về nhé?
– Ừ.
Làm gì còn cái lưới đánh cá nục; cậu bé còn nhớ kỹ, lưới đã phải bán đi từ
hồi nào. Nhưng ngày nào hắn cũng đóng kịch với ông lão như vậy. Cả cơm
với nghệ và cá cũng chẳng có nốt.
Ông lão nói:
– Tám mươi lăm, con số may mắn đấy chứ. Cháu sẽ tính sao nếu ta đem
về trên thuyền một con cá độ nửa tấn?
– Cháu đi lấy cái lưới đánh cá nục đây. Sao ông không ra ngồi sưởi nắng ở
trước nhà?
– Phải đấy, ra ngồi đọc trang dã cầu trong số báo hôm qua.
Cậu bé không hiểu tờ nhật báo có ở trong vở kịch không. Nhưng ông lão đã
chạy lại lôi tờ báo ở dưới giường ra. Ông giải thích:
– Chú Pêricô cho ta lúc ở quán.
– Lấy được cá nục xong cháu sẽ trở lại. Cháu để chung cả phần của ông
lẫn phần của cháu vào ướp nước đá, mai sẽ chia. Bao giờ cháu về ông sẽ
kể cho cháu nghe tin tức về dã cầu nhé.
– Hội Yăngki không thể nào thua được.
– Cháu sợ hội Da Đỏ ở Clivơlăn lắm.
– Cháu cứ tin ở hội Yăngki đi. Quên quái kiệt Đi Maghiô sao?
– Cháu sợ cả hội Hổ Xám ở Đêtrôi lẫn hội Da Đỏ ở Clivơlăn.
– Coi chừng đấy: rồi cháu sắp kinh cả hội Áo-đỏ ở Xinxinnati lẫn hội Bítất-trắng ở Chicagô.
– Ông xem kỹ đi, lát nữa cháu trở lại ông kể hết cho cháu nghe nhé?
– Cháu nghĩ có nên mua một tấm giấy số tận cùng bằng tám mươi lăm
không? Ngày mai là ngày thứ tám mươi lăm đấy.
– Cũng hay. Nhưng ông nghĩ sao về con cá to tướng bữa thứ tám mươi
bảy?
– Phúc bất trùng lai, cháu ơi! Liệu cháu có kiếm được một vé có số tám
mươi lăm không?
– Đặt mua được chứ.
– Một tấm phải hai đô-la rưỡi. Vay ai được bây giờ?
– Ồ! Không khó. Cháu có cách vay được hai đô-la rưỡi.
– Ta cũng vậy, có lẽ. Nhưng không bao giờ ta tính vay. Bắt đầu đi vay rồi
chả mấy chốc phải đi ăn xin.
– Thôi, mặc áo ấm vào ông ơi. Ông đừng quên tháng Chín rồi đó.
– Tháng nhiều cá lớn. Tháng Năm thì ai cũng đi đánh cá được hết.
– Cháu đi lo chuyện cá nục đây.
Khi cậu bé trở lại, ông lão ngồi ngủ gục trên ghế bành, ánh nắng đã tắt.
Cậu bé mang tấm chăn dạ lính đã cũ để trên giường ra quàng lên lưng ghế,
đắp lên vai cho ông lão. Đôi vai ông lão rất lạ, còn chắc nịch, tuy ông đã
già; cái cổ trông cũng còn cứng cỏi: ông lão ngồi gục đầu xuống ngủ,
những đường nhăn trên cổ cũng đỡ thấy rõ. Cái áo của ông lão vá chằng vá
đụp y như tấm buồm; những miếng vá đã bạc mỗi miếng một màu khác
nhau. Riêng cái đầu ông lão thật già cấc. Hai mắt nhắm, gương mặt không
còn một chút linh động. Tờ nhật báo trải trên đùi; tay ông lão chặn lên trên,
gió chiều không thổi bay đi được. Hai bàn chân ông lão không mang giầy.
Cậu bé để yên cho ông lão ngủ. Khi cậu trở lại ông lão vẫn còn ngủ. Cậu bé
để tay lên đầu gối ông lão gọi:
– Dậy đi, ông ơi!
Ông lão mở hai mắt, mãi sau mới tỉnh hẳn. Rồi ông lão mỉm cười và hỏi:
– Cháu mang cái gì lại thế?
– Cơm đây ông ạ. Chúng ta ăn đi.
– Ta chả thấy đói mấy.
– Cứ ăn đi ông ạ. Ông không ăn uống gì cả làm sao đi biển được.
Ông lão đứng lên, tay gập tờ báo:
– Nhịn được chứ.
Ông lão xếp cả tấm mền. Cậu bé nói:
– Ông cứ đắp mền đi. Cháu còn sống thì không đời nào ông phải đi biển
mà không có một hột cơm trong bụng.
Ông lão đáp:
– Cháu rán sống lâu và liệu mà giữ mình. À mà cháu cho ăn gì đó?
– Đậu đen với cơm, chuối chiên và thịt hầm.
Cậu bé ra quán mua mấy món đó, đựng trong một cái cà-mèn. Hai bộ dao
nĩa và cùi-dìa cuộn trong giấy lau tay, bỏ trong túi.
– Ai cho thế?
– Ông Máctin, chủ quán.
– Ta phải cám ơn ông ta mới được.
– Chả cần; cháu đã cám ơn ông ta rồi.
– Ta sẽ biếu hắn mấy miếng thịt bụng con cá lớn. Đã có lần nào hắn cho
mình như hôm nay chưa nhỉ?
– Hình như có.
– Nếu vậy mấy miếng thịt bụng không đủ. Phải cho nhiều hơn. Hắn ta tốt
bụng đấy chứ.
– Ông ta còn gửi cho cả hai chai bia nữa.
– Ta thích bia hộp hơn.
– Cháu biết. Thứ bia này lại đóng trong chai, bia Hatuê, chai cháu sẽ đem
trả lại.
– Cháu ngoan lắm. Thôi ăn chứ?
Cậu bé nhẹ nhàng đáp:
– Cháu đã mời ông mãi, cháu đợi ông muốn ăn cháu mới mở ra đấy, ông ạ.
– Bây giờ thì sẵn sàng rồi. À nhưng ta còn phải rửa tay đã.
Cậu bé tự hỏi: “Rửa tay ở đâu? Máy nước ở xa mãi hai phố trên. Ta quên
mất không xách nước lại, quên cả xà-phòng với một cái khăn lông tốt. Tại
sao ta hay quên thế! Còn phải xoay cho ông cụ chiếc sơ-mi khác, một cái
áo khoác mặc mùa lạnh, lại còn đôi giầy và một cái mền khác nữa”.
Ông lão nói:
– Thịt hầm của cháu ngon tuyệt.
Cậu bé hỏi:
– Ông nói chuyện dã cầu đi.
Ông lão vui vẻ đáp:
– Trong Liên đoàn Mỹ, hội Yăngki là đáng kể nhất.
– Hôm nay hội ấy bại rồi.
– Chả có nghĩa gì hết. Quái kiệt Đi Maghiô vẫn còn phong độ cũ.
– Trong hội ấy còn nhiều đấu thủ khác.
– Đành rằng thế, nhưng chỉ có Đi Maghiô là đặc biệt nhất. Ở các liên đoàn
khác giữa hai hội Bờrúcklin và Philađenphia ta thích hội Bờrúcklin hơn. Ta
vẫn thú Đích Síchlơ, với những cú thật hay ở sân cũ.
– Không thể bì được với những cú đó. Chưa bao giờ cháu thấy ai liệng
banh xa như thế.
– Cháu có nhớ hồi hắn hay đến chơi ở Quán? Ta chỉ muốn rủ hắn đi khơi
một hôm nhưng rụt rè không dám. Ta bảo cháu chạy ra thì cháu cũng nhát
không dám nốt.
– Cháu biết. Nghĩ lại thật là dại. Không chừng hắn chịu đi với chúng mình.
Ông thử tưởng tượng còn kỷ niệm nào trong đời tuyệt cho bằng!
Ông lão nói:
– Ta cũng thú rủ quái kiệt Đi Maghiô đi biển một chuyến quá! Hình như bố
hắn ta cũng là dân chài. Nếu đúng như vậy thì hắn cũng nghèo như bọn
mình, có thể hiểu bọn mình lắm.
– Còn cha của danh thủ Síchlơ thì không bao giờ nghèo cả, ông cụ ngay từ
hồi bằng tuổi cháu đã chơi cho những hội lớn.
– Hồi ta bằng tuổi cháu ta trèo tít lên ngọn cột buồm một chiếc tàu buồm
chạy dọc ven biển Phi-châu, chiều chiều ta trông thấy nhiều sư tử đứng
trên bãi biển.
– Cháu biết rồi. Ông đã kể cho cháu nghe.
– Thế bây giờ nói chuyện Phi-châu hay chuyện dã cầu?
– Chuyện dã cầu thích hơn. Ông kể chuyện kiện tướng Jôn J. Mácgơrô cho
cháu nghe. Cậu bé đọc chữ J thành chữ Iota.
– Hồi xưa hắn cũng hay đến chơi ở Quán. Nhưng anh chàng tục tằn và du
côn, hễ uống rượu vào là khó chịu lắm. Hắn ham đánh cá ngựa không kém
gì chơi dã cầu. Trong túi hắn lúc nào cũng đầy những bản danh sách ngựa
đua, luôn luôn nói chuyện trong máy nói là nhắc đến tên ngựa.
– Hắn có biệt tài dìu dắt. Bố cháu bảo rằng hắn là nhà dìu dắt có tài nhất.
– Tại hắn năng đến chơi đây hơn các đấu thủ khác. Nếu Đurôcơ cứ tiếp
tục năm nào cũng đến chơi ở đây thì bố cháu sẽ cho hắn là nhà dìu dắt có
tài nhất.
– Thế theo ý ông thì ai là nhà dìu dắt có tài nhất? Lúcki hay Maicơ
Gônzalê?
– Ta cho hai người ngang nhau.
– Còn đánh cá thạo nhất thì có ông.
– Không. Ta biết có nhiều người hơn ta chứ.
– Thôi đi. Có nhiều người đánh cá giỏi và vài người tuyệt vời. Nhưng
riêng ông thì độc nhất.
– Cám ơn cháu. Cháu làm ta vui lòng lắm. Ta mong rằng sẽ không bao giờ
gặp một con cá khổng lồ để cho cháu khỏi mang tiếng là nói dối.
– Nếu ông cứ mạnh như ông nói thì không bao giờ có thể có con cá khổng
lồ được.
– Có lẽ ta cũng không mạnh như ta nghĩ đâu. Nhưng ta có nhiều mánh lới,
lại gan lì nữa.
– Thôi bây giờ ông cần đi ngủ để mai tỉnh táo. Cháu đem đồ trả lại Quán.
– Ừ, cháu về ngủ ngon. Sáng mai ta sẽ đánh thức cháu dậy.
– Ông đúng là cái đồng hồ báo thức của cháu.
– Tuổi già là đồng hồ báo thức của ta. Không hiểu sao các người có tuổi
hay dậy sớm thế? Chắc hẳn để cho ngày được dài thêm.
– Cháu cũng chả biết. Cháu chỉ biết là trạc tuổi cháu ai cũng ngủ trưa, ngủ
mệt.
– Ta cũng còn nhớ lại cái thời đó. Ta sẽ đánh thức cháu thật đúng giờ.
– Cháu không thích lão chủ cháu đánh thức. Để vậy cháu thấy như là kẻ
dưới của lão.
– Ta biết.
– Ông ngủ cho ngon nhé.
Cậu bé ra về. Khi nãy hai người ăn cơm thầm với nhau. Ông lão cởi quần
và chui vào giường ngủ, trong nhà vẫn tối om. Ông lão cuộn tròn cái quần
lại nhét thêm giấy báo vào làm gối, rồi nằm tròn trong chăn trên mớ giấy
báo trải làm nệm.
Ông lão ngủ ngay, mơ tới Phi-châu hồi ông còn trẻ, những bãi biển vàng ối
dài thăm thẳm, những bãi biển sáng ngời đến chói mắt, những mũi biển
hiên ngang, những dãy núi cao màu nâu. Đêm nào ông lão cũng nằm mơ
tới bờ biển Phi-châu, tiếng sóng vang dội trong giấc chiêm bao, những chú
mọi đen chèo thuyền độc mộc trên những mỏm đá ngầm. Giấc chiêm bao
lừng mùi xơ gai và mùi hắc-ín, hai thứ mùi quen thuộc trên các boong tầu.
Khi hửng sáng, trong gió sớm từ nội địa thổi lại ông lão tưởng như ngửi
thấy chính mùi Phi-châu.
Thường thường khi ông lão ngửi thấy mùi gió nội địa là ông tỉnh dậy, mặc
áo rồi đi đánh thức cậu bé. Nhưng đêm đó mùi gió nội địa đến sớm quá;
đương giấc mơ ông lão cũng nghĩ rằng sớm quá. Ông cố ngủ lại để thấy
những mỏm núi trắng xóa của các hải đảo từ mặt biển nhô lên. Rồi ông lão
thấy những bến, những cảng của quần đảo Canary.
Không bao giờ ông lão còn mơ thấy bão táp, thấy đàn bà, không thấy cả
những biến chuyển lớn, những con cá khổng lồ, những vụ loạn đả, những
phen thử lửa, không mơ cả đến bà vợ cũ. Ông lão chỉ mơ thấy những
phong cảnh và những chú sư tử đứng trên bờ biển. Những chú sư tử đùa
giỡn như đàn mèo con lúc hoàng hôn, ông lão thấy yêu chúng cũng như
yêu chú bé. Không lần nào ông lão mơ thấy chú bé. Ông lão chợt thức
giấc, ngó ánh trăng qua khung cửa ngỏ, rồi giũ chiếc quần ra và mặc vào
người. Ra ngoài ông lão đứng tiểu ở bên vách rồi leo lên con đường dốc đi
đánh thức cậu bé. Sương sớm lạnh, ông lão run lật bật. Nhưng ông lão biết
rằng run rẩy như vậy càng thấy ấm và dù sớm cũng vẫn chèo thuyền được.
Cửa vào nhà chú bé không có khóa. Ông lão mở cửa và chân dậm đất nhè
nhẹ đi vào. Cậu bé nằm ngủ trên một cái ghế bố ở ngay phòng ngoài. Dưới
ánh trăng đã mờ ông lão trông thấy rõ cậu bé. Ông lão nhè nhẹ nắm một
chân cậu bé đưa lên cao. Cậu bé thức giấc quay lại ngó ông lão, ông lão gật
đầu ra hiệu cho cậu bé. Cậu bé với lấy cái quần vắt trên ghế rồi ngồi lên
xỏ chân vào hai ống quần.
Ông lão bước ra khỏi nhà, cậu bé theo sau, còn đương ngái ngủ. Ông lão
quàng tay trên vai cậu bé rồi nói:
– Phải đánh thức cháu, ta ngại quá.
– Thôi đi. Đã thành người lớn phải thế chứ.
Hai người đi về phía lều của ông lão. Suốt dọc đường gặp toàn những
người đi chân đất trong bóng tối, vai vác cột buồm.
Đến lều, hai người lấy mớ dây câu cuộn tròn trong cái giỏ, cây lao và cái
sào móc. Ông lão vác chiếc cột có cuốn lá buồm lên vai.
Cậu bé hỏi:
– Ông uống cà-phê nhé?
– Sắp sửa đồ nghề trên thuyền đã.
Họ uống cà-phê trong những cái lon đựng sữa đặc cũ ở một quán nhỏ mở
cửa rất sớm để bán cho bạn chài.
Cậu bé hỏi:
– Ông có ngủ được không?
Cậu bé đã tỉnh hẳn, nhưng vẫn còn tiếc giấc ngủ.
Ông lão đáp:
– Ngon lắm, Manôlin ạ, hôm nay ta thấy vững bụng lắm.
– Cháu cũng vậy. Để cháu chạy đi lấy phần cá nục của ông và của cháu,
với con mồi tươi cho ông. Đằng cháu ông chủ mang lấy đồ nghề đi.
Không ai được quyền mó đến.
– Mỗi người một lối. Với ta ngay khi cháu mới lên năm ta đã để cho cháu
muốn mang thì gì mang.
– Cháu biết. Cháu trở lại ngay. Ông uống thêm một cái cà-phê nữa đi. Ở
đây uống chịu được.
Chân đất chạy trên những tảng san hô, cậu bé đi đến kho lạnh để lấy mồi
trữ ở đó.
Ông lão uống cà phê chậm rãi từng ngụm một. Suốt từ giờ cho tới tối ông
lão chỉ có một món này vào bụng, ông thấy cần phải uống. Từ lâu lắm ông
lão thấy ngán cả ăn, không bao giờ ông mang theo đồ ăn nguội. Chỉ có một
chai nước lạnh ở mũi thuyền: như thế cũng đủ cho suốt cả ngày.
Cậu bé mang về một ít cá nục và hai bộ mồi bọc trong mảnh giấy báo. Hai
người đi vào con đường nhỏ chạy thẳng xuống chỗ neo thuyền, chân dậm
trên cát sỏi. Hai người nhắc bổng chiếc thuyền lên và đẩy xuống mặt nước.
– May mắn, ông nhé.
– Cháu cũng may mắn nhé.
Ông lão buộc chèo vào cọc rồi cắm chèo xuống nước đu người ra phía
trước lấy đà và bắt đầu chèo, bơi mò ra khỏi bến. Có nhiều thuyền khác, từ
các bến khác, cùng tiến ra khơi. Ông lão nghe tiếng mái chèo vỗ nước,
nhưng không trông thấy chi hết, trăng đã lặn phía sau mấy ngọn đồi.
Thỉnh thoảng có tiếng người nói trên một thuyền nào. Hầu hết các thuyền
đều im lặng, chỉ nghe rõ tiếng mái chèo. Ra khỏi bến, các thuyền đều tản
mạn đi, mỗi thuyền tiến về một góc đại dương, nơi mong có cá. Ông lão
biết rằng phải ra rõ xa; mùi nội địa để lại phía sau lưng; mỗi mái chèo lại
đẩy ông lão vào thêm trong làn hương tinh khiết buổi sớm mai trên mặt
biển. Dưới nước ông lão trông thấy rõ những mớ rong lóng lánh sáng giữa
dòng lưu loan: thuyền đương ở trên một vùng biển mà dân chài đặt tên là
Hồ Lớn, nguyên do bởi ở đó biển bỗng nhiên sâu xuống tới ngàn rưỡi
thước, cá tụ ở đó rất nhiều do những luồng sóng vỗ mạnh vào vách đá
dưới đáy biển. Có từng đàn đặc những tôm và cá nục, những khoảng thật
sâu đôi khi có những đám cá mực quy tụ; đêm đến chúng ngoi lên mặt biển
làm mồi cho những chú cá lớn lang thang qua đó.
Tuy còn tối trời ông lão đã độ chừng sắp sáng. Vừa bơi ông lão vừa nghe
thấy tiếng động của những con cá bay nhảy lên khỏi mặt nước, đôi cánh
cứng đơ vụt lướt trong đêm tối. Ông lão thích những con cá bay lắm, đó là
những bạn độc nhất của lão ở giữa đại dương. Ông lão thương hại mấy
con chim quá, nhất là những chú én, bộ lông màu sậm coi thật ẻo lả, luôn
luôn bay lượn tìm mồi mà thường chẳng bao giờ gặp. Ông lão nghĩ: “Loài
chim cuộc sống còn cam khổ hơn mình, ngoại trừ lũ chim khách chuyên ăn
cắp và mấy mãnh chim ưng lớn. Hóa công cũng kỳ cục, tạo ra những con
én bé xinh, ẻo ớt, giữa đại dương tàn nhẫn. Đại dương đẹp lắm, đáng yêu
lắm nhưng phút chốc có thể trở thành tàn nhẫn, vô cùng tàn nhẫn. Những
con chim đương bay kia, lát lại nhào xuống biển để săn mồi, tiếng kêu
buồn thảm, thật mảnh dẻ quá đối với đại dương”.
Ông lão gọi đại dương là la mar, danh từ bình dân Tây Ban Nha mọi người
dùng để chỉ đại dương khi họ thấy quý mến đại dương. Đôi khi người ta
cũng hết lời nguyền rủa nhưng đại dương bao giờ cũng được đặt vào
giống cái, như để chỉ người đàn bà vậy. Một vài dân chài, trong số những
người trẻ tuổi, họ dùng phao kiểu tối tân để buộc vào dây câu và đi nghề
trên những chiếc tàu có động cơ sắm được hồi gan cá mập được giá,
những bạn chài đó gọi đại dương là le mar, giống đực. Bọn này coi biển cả
như một đối phương, một cứ điểm hay một thù địch nữa. Nhưng với ông
lão, đại dương vẫn là la mar, một cái gì nó ban cho hay nó từ chối những
ân huệ lớn. Nếu la mar có xử sự như một con điên hay một ác phụ, cũng
bởi nàng không thể làm khác được. Ông lão nghĩ: mặt trăng luôn luôn phá
rối nàng như phá rối một phụ nữ.
Ông lão vẫn bơi, không phải cố gắng một chút nào vì cái đà lướt đi của
thuyền vẫn giữ đều và mặt nước phẳng lặng trừ một vài đợt sóng nhỏ do
dòng nước gợn lên. Một phần ba công việc chèo thuyền đi là nhờ dòng
nước trôi. Khi mặt trời bắt đầu ló lên, ông lão đã đi được quá phần đường
đã định.
Ông lão nghĩ thầm: “Cả một tuần nay thả lưới tại những quãng sâu chẳng
được một con nào. Hôm nay ta phải tìm những đàn cá giác hay cá bạc may
ra sẽ kiếm được con cá thật lớn”.
Trước khi trời sáng rõ ông lão đã thả xong mồi. Dòng nước cứ đẩy thuyền
trôi đi. Ông lão thả một con mồi xuống sâu tới bốn mươi sải; con thứ hai
tới bảy mươi sải; con thứ ba và thứ tư ngao du mãi tận dưới nước xanh, tới
một trăm và một trăm hai mươi lăm sải. Mỗi con đều thả cái đầu chúc
xuống, lưỡi câu giấu kỹ trong giữa thân con cá mồi, buộc thật chặt, khâu
lại kỹ lưỡng, những gai nhọn hay những khúc dây thép uốn cong đều có cá
nục tươi che kín. Những con cá nục xâu liền qua hai mắt trông như một
tràng hoa phủ kín những sợi thép. Không một li dây thép nào mà các chú cá
lớn không thấy ngon lành thơm tho.
Cậu bé cho ông lão hai con cá thu nhỏ thường gọi là cá bạc. Ông lão buộc
hai con mồi đó vào dây câu thả xuống sâu nhất, con mồi nặng chĩu như hai
hòn chì; hai sợi kia ông lão buộc một cá runner lớn màu xanh và một con
cá măng màu vàng, hai con mồi này đã dùng hôm qua nhưng nay còn dùng
lại được. Sợi nào cũng buộc thêm những con cá nục cho thêm ngon mắt.
Mỗi sợi dây câu bề to bằng một chiếc bút chì hạng đại đều buộc vào cái
phao rất nhẹ bằng gỗ màu lục; mỗi khi đụng tới con mồi là cái phao chìm
ngay xuống. Ông lão còn sẵn hai cuộn dây mỗi cuộn bốn chục sải, khi cần
đến có thể đem nối thêm vào những sợi dây dự phòng, thành ra nếu một
con cá mắc câu kéo đi ông lão đã có sẵn tới ba trăm sải dây để dòng.
Lúc này ông lão đương chăm chú coi ba cái phao chạy dài theo mạn
thuyền, ông lão bơi nhè nhẹ để giữ cho những sợi dây câu căng thẳng
xuống tận đáy sâu. Trời đã sáng rõ; chỉ trong giây phút là mặt trời sẽ ló ra.
Mặt trời lên khỏi mặt nước, ông lão trông thấy những thuyền câu khác, là
là trên mặt nước, không xa bờ mấy, ngay trên mép dòng nước chảy. Mặt
trời sáng bùng lên, ánh nắng cháy đỏ trên mặt biển; khi mặt trời lên cao
hẳn, ánh sáng phản chiếu xuống mặt gương nước đập thẳng vào mắt lão
khiến lão thấy khó chịu quá, phải vừa bơi vừa quay mặt ra chỗ khác. Lão
trông chừng từng sợi dây câu thả thẳng băng xuống tận đáy sâu; lão biết
giữ cho sợi dây lúc nào cũng thẳng, khéo léo hơn ai hết. Ở mỗi mực sâu,
giữa dòng nước tối đen, ông lão đã có một con mồi ở đúng cái chỗ đã định.
Những bạn chài khác thường mặc cho con mồi trôi theo dòng và nhiều khi
ước lượng chỗ mồi đương đậu sai đến chừng bốn chục sải.
Ông lão tự nhủ: “Riêng ta biết thả mồi đúng cái mức sâu vừa tầm. Vậy mà
chẳng bao giờ được may mắn! Nhưng biết đâu? Biết đâu ngày hôm nay…
Ngày nào cũng vẫn bấy nhiêu ý nghĩ. Cứ kể thì gặp may cũng hay đấy,
nhưng ít nhất ta cũng thạo nghề. Như vậy dịp may đến ta đã sẵn sàng”.
Mặt trời lên cao đã hai giờ đồng hồ rồi, bây giờ ông lão ngó về phía mặt
trời mọc không thấy chói mắt nữa. Còn trông thấy có ba chiếc thuyền câu;
chiếc nào cũng thấp sát mặt nước, rất gần bờ.
“Suốt đời ta đều thế, sáng ra thì bị mặt trời chói mắt, ông lão nghĩ vậy,
cũng may là mắt ta còn tỏ! Đến chiều ta có thể nhìn thẳng vào mặt trời,
không thấy cả những chấm đen. Thường thì buổi chiều mặt trời vẫn chói
hơn! Ban sáng thì thật là khó chịu”.
Trước mặt ông lão một con hải bằng hai cánh dài và đen lượn vòng trên
trời. Bỗng chốc nó nghiêng hai cánh hình tam giác rồi lao xuống, rồi lại
lượn vòng.
Ông lão nói lớn:
“Nó đã tìm thấy con gì đây. Nó nhằm không sai đâu”.
Nhè nhẹ, đều đều, lão bơi lại chỗ con hải bằng đương bay lượn. Ông lão
không hấp tấp; luôn luôn giữ cho mấy sợi dây câu thẳng tắp. Nhưng ông
lão bơi có nhanh hơn dòng nước, tuy rằng bao giờ lão cũng giữ đúng lối
nhà nghề và nếu không có con chim thì bơi như vậy mới gọi là quá nhanh.
Con chim bay cao lên trời, rồi là là hạ xuống lượn vòng; ông lão trông
thấy những con cá bay nhảy lên và bối rối chao cánh trên mặt nước.
Ông lão reo lên:
“Cá hồng! Con lớn lắm!”.
Lão gác mái chèo lên rồi lấy một sợi dây nhỏ cất ở dưới mũi thuyền. Sợi
dây câu có mắc một sợi thép đầu buộc vào một cái lưỡi cỡ vừa, ông lão
móc vào lưỡi một con cá nục quăng dây câu xuống nước qua mạn thuyền
rồi cột vào một cái mấu ở đằng lái. Sau đó lão móc sẵn một sợi dây câu ở
đằng mũi thuyền nhưng giấu trong bóng mát dưới mạn thuyền. Con chim
cánh đen bay là là sát tận mặt nước. Mắt lão không rời con chim, lại bắt
đầu bơi.
Con chim nghiêng cánh, lại lao xuống những con cá bay, hai cánh vỗ tíu tít,
nhưng vô hiệu. Lũ cá hồng thoăn thoắt dưới nước bơi theo đám cá bay, chỉ
chờ mấy con cá bay lặn xuống. Ông lão chăm chú dõi theo những đợt sóng
do đám cá hồng quẫy lên. Ông lão nghĩ: “Một đàn thật đông những cá
hồng. Đầy đặc mọi chỗ. Lũ bay khó lòng thoát khỏi. Con chim sẽ chả xơ
múi gì đâu. Cá bay lớn quá, nó bay nhanh như quỷ ấy”.
Ông lão ngắm những chú cá bay luôn luôn nhảy lên khỏi mặt nước và con
chim nhọc sức cố bắt lấy một con, lão nghĩ: “Lũ cá này chắc muốn chuồn.
Chúng bơi nhanh quá, ra xa quá. Không chừng ta sẽ chộp được một con lẽo
đẽo ở đàng đuôi; cũng có lẽ chú cá khổng lồ của ta đương rượt theo đàn cá
này. Con cá khổng lồ đó, ít nhất ta cũng phải chõm ...
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
(Bản dịch của Mặc Đỗ)
VĂN NGHỆ
ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
ERNEST HEMINGWAY
MẶC ĐỖ dịch
Trình bày Cao Xuân Huy
Bìa Khánh Trường
Văn Nghệ xuất bản 1998, USA
ISBN: 1-886566-43-7
Copyright © 1998 by Van Nghe
VỀ NHỮNG NHÂN DANH, ĐỊA DANH TRONG SÁCH NÀY
Để văn dịch được thật sự phổ cập và những bản dịch được hoàn toàn quốc
ngữ hóa như của Trung Hoa, Nhật Bản, dịch giả đề nghị áp dụng trong bản
dịch này việc phiên âm những nhân danh, địa danh. Phương pháp đề ra
chưa chắc đã hoàn hảo; dù sao ta cứ bước một bước đầu.
NGUYÊN TẮC CHUNG
1. Nhân danh, địa danh của nước nào thì phải cố gắng phiên âm theo
đúng âm của nước đó.
2. Những danh từ đã quá quen thuộc nên giữ lại. Thí dụ: Anh, Pháp, Nga,
Mỹ… Nhưng nếu phiên âm đúng hơn và sẽ tiện dụng hơn thì nên đổi:
Pari hơn Balê.
PHƯƠNG PHÁP
1. Viết dính các âm. Viết rời nếu danh từ gốc viết rời. Cố giữ để khỏi xa
với cách viết (theo mẫu tự latinh) của danh từ gốc. Thí dụ: không thay
S bằng X (Sanhtơny chớ không Xanhtơny).
2. Không phân biệt cách đọc S và X, nhưng để phiên âm vần CH (Pháp)
hay SH (Anh) dùng vần SH. Thí dụ: Shinông.
3. Chấp nhận âm S câm. Thí dụ: Côngstăngtanh, Stăngbun.
4. Chấp nhận thêm những vần không dùng trong Việt ngữ nhưng người
Việt phát âm được: Bl, Br, Cl, Cr, Đr, (đơrơ), F (phơ), F1 (phơlơ), Fr
(phơrơ), J (thay cho vần GI để khi đọc khỏi lẫn, thí dụ: Anjêri dễ đọc
hơn Angiêri vì có thể lầm thành Angi-êri), Kl (Cơlơ), Kr (cơrơ), Z.
5. Cố gắng phiên âm đầy đủ các âm của danh từ gốc, nhưng tránh dùng
dấu Việt ngữ để nhấn mạnh nếu không cần thiết lắm, tuy gặp danh từ
gốc cố ý nhấn mạnh vẫn cần giữ cho đúng với nguyên tắc chung. Thí
dụ: Odessa có thể viết Ôđesa, nhưng Madagascar phải viết Mađagátca.
LỜI NGƯỜI DỊCH
Đem kinh nghiệm bản thân gửi vào tác phẩm, chủ đích nghệ thuật đó
Ernest Hemingway đã giải bày trong cuốn The Snows of Kilimanjaro: một
nhà văn khi hấp hối nhớ lại những mẩu đời của mình đã toan để dành đưa
vào trong truyện. Toàn thể những tác phẩm đã xuất bản của Hemingway
đều là những vang bóng của những quảng thời gian mà chính tác giả đã
từng sống. Thời thơ ấu ở Michigan (In Our Time), kỳ đại chiến thứ nhất
trong quân đội Ý (A Farewell to Arms), huấn luyện viên võ thuật (Fifty
Grend), dự đấu bò tại Tây Ban Nha (The Undefeated), sáu năm sống cuộc
đời ly hương tại Montparnasse, Paris (The Sun Also Rises), tham gia nội
chiến Tây Ban Nha trong hàng ngũ dân chủ (For Whom The Bells Toll),
Cuốn Ông già và Biển cả (The Old Man and the Sea) chúng tôi trình bày
cùng độc giả, rút ở những nhận xét tại chỗ hồi ông ở Key West, tận cùng
mỏm Florida, thường đi theo dân chài ra khơi.
Bằng chứng vào cuộc đời và những tác phẩm của Hemingway ta có thể nói
không ngoa rằng nếu ông ở yên một chỗ ông sẽ không thể viết được. Trong
một cuộc du lịch tại Phi-châu, ông và bà vợ cùng đi trên một chiếc máy bay
riêng và mất tích giữa rừng rậm, báo chí thế giới đã sửa soạn bài ai điếu
thì hai vợ chồng ông lại tìm về được không một chút thương tích.
Tuy Hemingway sống rất nhiều, nhân vật trong tiểu thuyết của ông thường
biểu lộ tâm trạng trơ trọi của con người bất phùng thời. Trơ trọi vì kiêu
hãnh từ chối đầu hàng, không chịu phó mặc cho số phận. Ông lão đánh cá
trong thiên truyện này là một thể hiện đặc sắc của sự trơ trọi kiểu
Hemingway. Bị người đời rẻ rúng ông lão vẫn cương quyết đi con đường
của mình cho trọn, chống trả kịch liệt cho đến thành công, rồi lại đem hết
sức tàn ra đương đầu với Định Mệnh, không một lời ta oán, tin ở mình cho
đến cùng.
ó một lão ông, một mình trên chiếc thuyền, lênh đênh đánh cá giữa
dòng Loan-lưu, tám mươi bốn hôm ròng không được lấy một con cá.
Trong bốn chục hôm đầu có một cậu bé đi theo ông lão. Nhưng sau
bốn chục ngày không được một con cá, cha mẹ cậu bé bảo với cậu bé rằng
ông lão đã hoàn toàn hết lộc không còn chút may mắn nào nữa. Cậu bé
được đưa sang chiếc thuyền khác, ngay tuần lễ đầu đã đánh được ba con
cá lớn. Từ đó cậu bé ngày ngày buồn rầu ngó ông lão ghé về với chiếc
thuyền không và thường chạy ra đón ông lão, đỡ tay ông lão mang mớ dây
câu cuốn tròn, chiếc sào móc, cây lao hay tấm buồm cuộn cùng với cọc.
Tấm buồm rách vá bằng những bao bột cũ, cuộn lại chẳng khác gì lá cờ
thất bại vĩnh viễn.
C
Lão ông gầy còm, khô đét, đường nhăn trên gáy như những lát dao. Nắng
gắt giữa biển vùng nhiệt đới hắt lên làm sạm đen cả hai má. Hai tay đầy
những vết sẹo sâu hoắm do dây câu cứa phải khi giằng giựt với cá lớn mắc
ở đầu dây. Không một vết sẹo nào mới. Vết nào cũng cũ kỹ như những
đường xoi lở trên một bãi hoang vắng bóng cá.
Mọi thứ trên người ông lão đều già cằn, chỉ trừ có hai con mắt màu nước
biển, linh động và cương quyết.
Sau khi kéo thuyền lên bãi, hai người cùng leo trên dốc, cậu bé nói với ông
lão:
– Ông Săngtiagô ơi, bao giờ cháu lại đi nghề với ông được. Tụi cháu kiếm
khá tiền rồi.
Ông lão có dạy nghề biển cho cậu bé, cậu bé mến ông lão lắm.
Ông lão đáp:
– Không, cháu đi trên chiếc thuyền nhiều may mắn, cháu không nên bỏ.
– Thế ông quên hồi trước có khi hai mươi bảy ngày liền mình chẳng được
con nào, rồi bỗng nhiên trong ba tuần lễ ngày nào cũng được cá lớn?
– Ta nhớ chứ. Ta biết không phải vì thất vọng mà cháu bỏ ta.
– Tại bố cháu đấy. Cháu còn nhỏ, phải vâng lời bố cháu.
– Ta hiểu mà. Lẽ tự nhiên phải thế.
– Tại bố cháu không tin.
– Ừ. Nhưng chúng mình tin nhau chứ?
– Vâng. Ông uống với cháu một cốc bia ở quán nhé? Xong sẽ thu xếp đồ
nghề.
– Uống chứ. Bạn cùng nghề cả.
Hai người vào ngồi trong quán. Mọi người nhìn ông lão ra vẻ chế nhạo,
nhưng ông lão không lấy làm giận. Các ông già khác ngó ông lão và cảm
thấy buồn buồn. Tuy nhiên họ không tỏ vẻ gì hết và niềm nở nói chuyện
con nước, về những vùng họ đã bỏ lưới, chuyện thời tiết còn tốt hay
những điều họ nhận xét. Những bạn chài gặp may được nhiều cá đã về hết.
Cá moi hết ruột xếp đầy trên hai tấm gỗ, mỗi tấm hai người khiêng đong
đưa tiến về phía kho chứa cá đợi xe cam-nhông có thùng lạnh tới chở về
chợ Havana. Những người đánh được cá mập đã đem bán cho “xưởng cá
mập” ở bên kia eo biển. Những con cá mập được treo lên một cái móc để
moi gan, cắt vây và đánh vẩy. Sau đó thịt cá chặt thành miếng đem đi muối.
Hôm nào có gió giông, mùi ở “xưởng cá mập” nồng nặc khắp bến. Hôm
nay mùi cá chỉ thoang thoảng vì gió đã xoay qua hướng bắc rồi tắt hẳn.
Ngồi phơi nắng ở trước quán thật là dễ chịu.
Cậu bé nói:
– Ông Săngtiagô!
Ông lão tay bưng cốc đương mải nghĩ về dĩ vãng, đáp: – Hả?
– Cháu đi lấy cá nục cho ông dùng ngày mai nhé?
– Thôi, đi ra chơi dã cầu. Một mình ta chèo được rồi, còn Rôjêliô sẽ kéo
lưới.
– Nhưng cháu thích thế. Cháu không được làm bạn chài với ông nhưng
cháu muốn có cách nào đỡ tay cho ông.
– Cháu đã cho ta uống bia. Cháu thành người lớn rồi đấy.
– Lần đầu tiên đi nghề với ông cháu lên mấy nhỉ?
– Lên năm, lần đó cháu suýt chết. Cháu còn nhớ không, hôm ấy ta kéo con
cá lên quên không quần cho nó mệt, tý nữa thì đi đời cả thuyền.
– Cháu còn nhớ cái đuôi nó quẫy, nó đập, nhớ cái ghế gãy đôi ra, nhớ tiếng
chày nện. Cháu nhớ ông hất cháu ngã nhoài lên đống lưới ướt, rung
chuyển cả thuyền lên, nhớ tiếng chày ông nện mãi như hạ một gốc cây to,
với cái mùi cá nhạt tanh tràn đầy quanh cháu.
– Có thật cháu nhớ cái cảnh ấy hay chỉ nhớ câu chuyện ta kể lại?
– Ngay từ lần dầu tiên đi nghề với ông, bao nhiêu chuyện xảy ra cháu nhớ
hết.
Lão ông đưa đôi mắt tin cậy ngó cậu bé, ánh mắt mờ dịu dưới ánh nắng.
Ông nói:
– Nếu cháu là con đẻ của ta, ta sẽ đem cháu đi, cần quái gì. Nhưng cháu
còn cha mẹ, cháu lại đương ở trên một chiếc thuyền nhiều may mắn.
– Cháu đi lấy cá nục ông nhé? Cháu biết chỗ lấy cho ông bốn bộ mồi.
– Hôm nay ta cũng hãy còn mồi, vừa bỏ vào thùng muối rồi.
– Để cháu kiếm cho ông bốn bộ còn tươi cơ.
– Một thôi.
Niềm hy vọng, lòng tin tưởng của ông lão không bao giờ phai lạt. Nhưng
nay cũng giảm sút bớt như cơn gió tắt.
Cậu bé cố kèo nài:
– Hai bộ ông nhé?
– Ừ thì hai. Nhưng cháu không lấy cắp của ai đấy chứ?
– Cần thì cháu cũng chả từ. Nhưng mấy bộ này thì cháu mất tiền mua thật.
– Cám ơn cháu lắm.
Không biết ông lão hóa ra khiêm tốn từ bao giờ. Tâm hồn ông mộc mạc
quá chẳng thấy cần phải tìm hiểu nữa. Nhưng ông tự nhận thấy rằng mình
đã tự hạ. Ông cũng không lấy thế làm hổ thẹn. Lòng kiêu hãnh bản chất
của ông, ông chưa hề mất. Ông nói:
– Trông chừng con nước này ngày mai chắc khá lắm.
Cậu bé hỏi:
– Mai ông thả lưới ở quãng nào?
– Càng ra xa càng hay, chừng nào gió ngược thì quay về. Ta phải ra khơi
trước khi mặt trời mọc.
– Để cháu xúi ông chủ cháu cũng đi khơi ngày mai. Nếu ông kiếm được
một mẻ thật lớn, chúng cháu sẽ tới đỡ tay cho ông.
– Thằng cha ấy không thích ra khơi đâu.
– Đúng đấy. Nhưng cháu sẽ kiếm cách đánh lừa hắn. Ờ, cháu sẽ giả đò
trông thấy một con chim đương ăn cá. Thế nào hắn cũng tin là có cá hồng,
và hắn bổ đi ngay.
– Mắt hắn kém đến thế cơ à?
– Gần như mù.
– Lạ nhỉ! Nhưng có bao giờ hắn đi câu ba-ba đâu? Câu ba-ba hại mắt ghê
lắm.
– Ông cũng đi câu ba-ba ở ven biển, muỗi mãi thế sao mắt ông vẫn sáng?
– Ta là một con người kỳ lạ lắm.
– Ông có thể tin rằng ông còn có thể câu được một con cá thật to không?
– Có lẽ. Phải biết mưu mẹo lắm.
– Thôi, hãy đem đồ nghề của ông về đã. Cháu sẽ mang lưới đánh cá nục đi,
thế nào cháu cũng làm được một mẻ.
Hai người thu nhặt mọi đồ vật trên thuyền. Ông lão vác chiếc cột buồm
trên vai, cậu bé mang chiếc thùng đựng mớ lưới màu nâu cuộn tròn lại với
nhau, chiếc sào móc vào cây lao. Thùng mồi để dưới đáy thuyền, ở đằng
lái, cùng với cái chày dùng để đập những cá lớn khi câu được kéo tới mạn
thuyền. Có ai tính ăn trộm của ông lão đâu, nhưng cũng phải cẩn thận cất
tấm buồm và những dây câu lớn, để phơi sương thì vứt đi ngay. Đành rằng
bạn chài chẳng ai đụng tới đồ nghề của ông lão nhưng tội gì lại bỏ chiếc
sào móc với cây lao ở thuyền để nhử người ta lấy.
Hai người đi bên nhau về phía lều của ông lão, cánh cửa lều vẫn bỏ ngỏ.
Ông lão dựng cây cột buồm bên vách; cậu bé đặt cái thùng và các đồ vật ở
cạnh. Cây cột buồm dài gần bằng cả một gian lều. Căn lều vách dựng bằng
một thứ vỏ cứng của một loại cây cọ lớn tên là guano ghép lại thành tấm.
Đồ đạc có một cái bàn và một cái ghế. Trong góc có chỗ để thổi nấu bằng
than và ở ngay nền đất nện. Trên vách màu nâu, đây đó lòi ra những mảnh
lá guano ép lại cứng đơ, có treo hai bức tranh màu, một bức hình Thánh
Tâm và một bức hình Đức Mẹ ở Côbrơ. Đó là những di vật của bà vợ ông
lão. Hồi trước trên vách còn treo cả một bức hình bà lão có tô màu, mỗi khi
trông thấy ông lão càng cảm thấy nỗi cô quạnh. Bây giờ ông lão cất bức
hình ở trên cái giá trong góc dưới chiếc áo sơ-mi sạch của ông lão.
Cậu bé hỏi:
– Hôm nay ông ăn gì thế?
– Cơm trộn với nghệ và cá. Cháu có ăn không?
– Thôi, để cháu về ăn cơm nhà. Cháu nhóm bếp nhé?
– Để lát nữa. Có lẽ ăn cơm nguội cũng được.
– Cháu lấy cái lưới đánh cá nục về nhé?
– Ừ.
Làm gì còn cái lưới đánh cá nục; cậu bé còn nhớ kỹ, lưới đã phải bán đi từ
hồi nào. Nhưng ngày nào hắn cũng đóng kịch với ông lão như vậy. Cả cơm
với nghệ và cá cũng chẳng có nốt.
Ông lão nói:
– Tám mươi lăm, con số may mắn đấy chứ. Cháu sẽ tính sao nếu ta đem
về trên thuyền một con cá độ nửa tấn?
– Cháu đi lấy cái lưới đánh cá nục đây. Sao ông không ra ngồi sưởi nắng ở
trước nhà?
– Phải đấy, ra ngồi đọc trang dã cầu trong số báo hôm qua.
Cậu bé không hiểu tờ nhật báo có ở trong vở kịch không. Nhưng ông lão đã
chạy lại lôi tờ báo ở dưới giường ra. Ông giải thích:
– Chú Pêricô cho ta lúc ở quán.
– Lấy được cá nục xong cháu sẽ trở lại. Cháu để chung cả phần của ông
lẫn phần của cháu vào ướp nước đá, mai sẽ chia. Bao giờ cháu về ông sẽ
kể cho cháu nghe tin tức về dã cầu nhé.
– Hội Yăngki không thể nào thua được.
– Cháu sợ hội Da Đỏ ở Clivơlăn lắm.
– Cháu cứ tin ở hội Yăngki đi. Quên quái kiệt Đi Maghiô sao?
– Cháu sợ cả hội Hổ Xám ở Đêtrôi lẫn hội Da Đỏ ở Clivơlăn.
– Coi chừng đấy: rồi cháu sắp kinh cả hội Áo-đỏ ở Xinxinnati lẫn hội Bítất-trắng ở Chicagô.
– Ông xem kỹ đi, lát nữa cháu trở lại ông kể hết cho cháu nghe nhé?
– Cháu nghĩ có nên mua một tấm giấy số tận cùng bằng tám mươi lăm
không? Ngày mai là ngày thứ tám mươi lăm đấy.
– Cũng hay. Nhưng ông nghĩ sao về con cá to tướng bữa thứ tám mươi
bảy?
– Phúc bất trùng lai, cháu ơi! Liệu cháu có kiếm được một vé có số tám
mươi lăm không?
– Đặt mua được chứ.
– Một tấm phải hai đô-la rưỡi. Vay ai được bây giờ?
– Ồ! Không khó. Cháu có cách vay được hai đô-la rưỡi.
– Ta cũng vậy, có lẽ. Nhưng không bao giờ ta tính vay. Bắt đầu đi vay rồi
chả mấy chốc phải đi ăn xin.
– Thôi, mặc áo ấm vào ông ơi. Ông đừng quên tháng Chín rồi đó.
– Tháng nhiều cá lớn. Tháng Năm thì ai cũng đi đánh cá được hết.
– Cháu đi lo chuyện cá nục đây.
Khi cậu bé trở lại, ông lão ngồi ngủ gục trên ghế bành, ánh nắng đã tắt.
Cậu bé mang tấm chăn dạ lính đã cũ để trên giường ra quàng lên lưng ghế,
đắp lên vai cho ông lão. Đôi vai ông lão rất lạ, còn chắc nịch, tuy ông đã
già; cái cổ trông cũng còn cứng cỏi: ông lão ngồi gục đầu xuống ngủ,
những đường nhăn trên cổ cũng đỡ thấy rõ. Cái áo của ông lão vá chằng vá
đụp y như tấm buồm; những miếng vá đã bạc mỗi miếng một màu khác
nhau. Riêng cái đầu ông lão thật già cấc. Hai mắt nhắm, gương mặt không
còn một chút linh động. Tờ nhật báo trải trên đùi; tay ông lão chặn lên trên,
gió chiều không thổi bay đi được. Hai bàn chân ông lão không mang giầy.
Cậu bé để yên cho ông lão ngủ. Khi cậu trở lại ông lão vẫn còn ngủ. Cậu bé
để tay lên đầu gối ông lão gọi:
– Dậy đi, ông ơi!
Ông lão mở hai mắt, mãi sau mới tỉnh hẳn. Rồi ông lão mỉm cười và hỏi:
– Cháu mang cái gì lại thế?
– Cơm đây ông ạ. Chúng ta ăn đi.
– Ta chả thấy đói mấy.
– Cứ ăn đi ông ạ. Ông không ăn uống gì cả làm sao đi biển được.
Ông lão đứng lên, tay gập tờ báo:
– Nhịn được chứ.
Ông lão xếp cả tấm mền. Cậu bé nói:
– Ông cứ đắp mền đi. Cháu còn sống thì không đời nào ông phải đi biển
mà không có một hột cơm trong bụng.
Ông lão đáp:
– Cháu rán sống lâu và liệu mà giữ mình. À mà cháu cho ăn gì đó?
– Đậu đen với cơm, chuối chiên và thịt hầm.
Cậu bé ra quán mua mấy món đó, đựng trong một cái cà-mèn. Hai bộ dao
nĩa và cùi-dìa cuộn trong giấy lau tay, bỏ trong túi.
– Ai cho thế?
– Ông Máctin, chủ quán.
– Ta phải cám ơn ông ta mới được.
– Chả cần; cháu đã cám ơn ông ta rồi.
– Ta sẽ biếu hắn mấy miếng thịt bụng con cá lớn. Đã có lần nào hắn cho
mình như hôm nay chưa nhỉ?
– Hình như có.
– Nếu vậy mấy miếng thịt bụng không đủ. Phải cho nhiều hơn. Hắn ta tốt
bụng đấy chứ.
– Ông ta còn gửi cho cả hai chai bia nữa.
– Ta thích bia hộp hơn.
– Cháu biết. Thứ bia này lại đóng trong chai, bia Hatuê, chai cháu sẽ đem
trả lại.
– Cháu ngoan lắm. Thôi ăn chứ?
Cậu bé nhẹ nhàng đáp:
– Cháu đã mời ông mãi, cháu đợi ông muốn ăn cháu mới mở ra đấy, ông ạ.
– Bây giờ thì sẵn sàng rồi. À nhưng ta còn phải rửa tay đã.
Cậu bé tự hỏi: “Rửa tay ở đâu? Máy nước ở xa mãi hai phố trên. Ta quên
mất không xách nước lại, quên cả xà-phòng với một cái khăn lông tốt. Tại
sao ta hay quên thế! Còn phải xoay cho ông cụ chiếc sơ-mi khác, một cái
áo khoác mặc mùa lạnh, lại còn đôi giầy và một cái mền khác nữa”.
Ông lão nói:
– Thịt hầm của cháu ngon tuyệt.
Cậu bé hỏi:
– Ông nói chuyện dã cầu đi.
Ông lão vui vẻ đáp:
– Trong Liên đoàn Mỹ, hội Yăngki là đáng kể nhất.
– Hôm nay hội ấy bại rồi.
– Chả có nghĩa gì hết. Quái kiệt Đi Maghiô vẫn còn phong độ cũ.
– Trong hội ấy còn nhiều đấu thủ khác.
– Đành rằng thế, nhưng chỉ có Đi Maghiô là đặc biệt nhất. Ở các liên đoàn
khác giữa hai hội Bờrúcklin và Philađenphia ta thích hội Bờrúcklin hơn. Ta
vẫn thú Đích Síchlơ, với những cú thật hay ở sân cũ.
– Không thể bì được với những cú đó. Chưa bao giờ cháu thấy ai liệng
banh xa như thế.
– Cháu có nhớ hồi hắn hay đến chơi ở Quán? Ta chỉ muốn rủ hắn đi khơi
một hôm nhưng rụt rè không dám. Ta bảo cháu chạy ra thì cháu cũng nhát
không dám nốt.
– Cháu biết. Nghĩ lại thật là dại. Không chừng hắn chịu đi với chúng mình.
Ông thử tưởng tượng còn kỷ niệm nào trong đời tuyệt cho bằng!
Ông lão nói:
– Ta cũng thú rủ quái kiệt Đi Maghiô đi biển một chuyến quá! Hình như bố
hắn ta cũng là dân chài. Nếu đúng như vậy thì hắn cũng nghèo như bọn
mình, có thể hiểu bọn mình lắm.
– Còn cha của danh thủ Síchlơ thì không bao giờ nghèo cả, ông cụ ngay từ
hồi bằng tuổi cháu đã chơi cho những hội lớn.
– Hồi ta bằng tuổi cháu ta trèo tít lên ngọn cột buồm một chiếc tàu buồm
chạy dọc ven biển Phi-châu, chiều chiều ta trông thấy nhiều sư tử đứng
trên bãi biển.
– Cháu biết rồi. Ông đã kể cho cháu nghe.
– Thế bây giờ nói chuyện Phi-châu hay chuyện dã cầu?
– Chuyện dã cầu thích hơn. Ông kể chuyện kiện tướng Jôn J. Mácgơrô cho
cháu nghe. Cậu bé đọc chữ J thành chữ Iota.
– Hồi xưa hắn cũng hay đến chơi ở Quán. Nhưng anh chàng tục tằn và du
côn, hễ uống rượu vào là khó chịu lắm. Hắn ham đánh cá ngựa không kém
gì chơi dã cầu. Trong túi hắn lúc nào cũng đầy những bản danh sách ngựa
đua, luôn luôn nói chuyện trong máy nói là nhắc đến tên ngựa.
– Hắn có biệt tài dìu dắt. Bố cháu bảo rằng hắn là nhà dìu dắt có tài nhất.
– Tại hắn năng đến chơi đây hơn các đấu thủ khác. Nếu Đurôcơ cứ tiếp
tục năm nào cũng đến chơi ở đây thì bố cháu sẽ cho hắn là nhà dìu dắt có
tài nhất.
– Thế theo ý ông thì ai là nhà dìu dắt có tài nhất? Lúcki hay Maicơ
Gônzalê?
– Ta cho hai người ngang nhau.
– Còn đánh cá thạo nhất thì có ông.
– Không. Ta biết có nhiều người hơn ta chứ.
– Thôi đi. Có nhiều người đánh cá giỏi và vài người tuyệt vời. Nhưng
riêng ông thì độc nhất.
– Cám ơn cháu. Cháu làm ta vui lòng lắm. Ta mong rằng sẽ không bao giờ
gặp một con cá khổng lồ để cho cháu khỏi mang tiếng là nói dối.
– Nếu ông cứ mạnh như ông nói thì không bao giờ có thể có con cá khổng
lồ được.
– Có lẽ ta cũng không mạnh như ta nghĩ đâu. Nhưng ta có nhiều mánh lới,
lại gan lì nữa.
– Thôi bây giờ ông cần đi ngủ để mai tỉnh táo. Cháu đem đồ trả lại Quán.
– Ừ, cháu về ngủ ngon. Sáng mai ta sẽ đánh thức cháu dậy.
– Ông đúng là cái đồng hồ báo thức của cháu.
– Tuổi già là đồng hồ báo thức của ta. Không hiểu sao các người có tuổi
hay dậy sớm thế? Chắc hẳn để cho ngày được dài thêm.
– Cháu cũng chả biết. Cháu chỉ biết là trạc tuổi cháu ai cũng ngủ trưa, ngủ
mệt.
– Ta cũng còn nhớ lại cái thời đó. Ta sẽ đánh thức cháu thật đúng giờ.
– Cháu không thích lão chủ cháu đánh thức. Để vậy cháu thấy như là kẻ
dưới của lão.
– Ta biết.
– Ông ngủ cho ngon nhé.
Cậu bé ra về. Khi nãy hai người ăn cơm thầm với nhau. Ông lão cởi quần
và chui vào giường ngủ, trong nhà vẫn tối om. Ông lão cuộn tròn cái quần
lại nhét thêm giấy báo vào làm gối, rồi nằm tròn trong chăn trên mớ giấy
báo trải làm nệm.
Ông lão ngủ ngay, mơ tới Phi-châu hồi ông còn trẻ, những bãi biển vàng ối
dài thăm thẳm, những bãi biển sáng ngời đến chói mắt, những mũi biển
hiên ngang, những dãy núi cao màu nâu. Đêm nào ông lão cũng nằm mơ
tới bờ biển Phi-châu, tiếng sóng vang dội trong giấc chiêm bao, những chú
mọi đen chèo thuyền độc mộc trên những mỏm đá ngầm. Giấc chiêm bao
lừng mùi xơ gai và mùi hắc-ín, hai thứ mùi quen thuộc trên các boong tầu.
Khi hửng sáng, trong gió sớm từ nội địa thổi lại ông lão tưởng như ngửi
thấy chính mùi Phi-châu.
Thường thường khi ông lão ngửi thấy mùi gió nội địa là ông tỉnh dậy, mặc
áo rồi đi đánh thức cậu bé. Nhưng đêm đó mùi gió nội địa đến sớm quá;
đương giấc mơ ông lão cũng nghĩ rằng sớm quá. Ông cố ngủ lại để thấy
những mỏm núi trắng xóa của các hải đảo từ mặt biển nhô lên. Rồi ông lão
thấy những bến, những cảng của quần đảo Canary.
Không bao giờ ông lão còn mơ thấy bão táp, thấy đàn bà, không thấy cả
những biến chuyển lớn, những con cá khổng lồ, những vụ loạn đả, những
phen thử lửa, không mơ cả đến bà vợ cũ. Ông lão chỉ mơ thấy những
phong cảnh và những chú sư tử đứng trên bờ biển. Những chú sư tử đùa
giỡn như đàn mèo con lúc hoàng hôn, ông lão thấy yêu chúng cũng như
yêu chú bé. Không lần nào ông lão mơ thấy chú bé. Ông lão chợt thức
giấc, ngó ánh trăng qua khung cửa ngỏ, rồi giũ chiếc quần ra và mặc vào
người. Ra ngoài ông lão đứng tiểu ở bên vách rồi leo lên con đường dốc đi
đánh thức cậu bé. Sương sớm lạnh, ông lão run lật bật. Nhưng ông lão biết
rằng run rẩy như vậy càng thấy ấm và dù sớm cũng vẫn chèo thuyền được.
Cửa vào nhà chú bé không có khóa. Ông lão mở cửa và chân dậm đất nhè
nhẹ đi vào. Cậu bé nằm ngủ trên một cái ghế bố ở ngay phòng ngoài. Dưới
ánh trăng đã mờ ông lão trông thấy rõ cậu bé. Ông lão nhè nhẹ nắm một
chân cậu bé đưa lên cao. Cậu bé thức giấc quay lại ngó ông lão, ông lão gật
đầu ra hiệu cho cậu bé. Cậu bé với lấy cái quần vắt trên ghế rồi ngồi lên
xỏ chân vào hai ống quần.
Ông lão bước ra khỏi nhà, cậu bé theo sau, còn đương ngái ngủ. Ông lão
quàng tay trên vai cậu bé rồi nói:
– Phải đánh thức cháu, ta ngại quá.
– Thôi đi. Đã thành người lớn phải thế chứ.
Hai người đi về phía lều của ông lão. Suốt dọc đường gặp toàn những
người đi chân đất trong bóng tối, vai vác cột buồm.
Đến lều, hai người lấy mớ dây câu cuộn tròn trong cái giỏ, cây lao và cái
sào móc. Ông lão vác chiếc cột có cuốn lá buồm lên vai.
Cậu bé hỏi:
– Ông uống cà-phê nhé?
– Sắp sửa đồ nghề trên thuyền đã.
Họ uống cà-phê trong những cái lon đựng sữa đặc cũ ở một quán nhỏ mở
cửa rất sớm để bán cho bạn chài.
Cậu bé hỏi:
– Ông có ngủ được không?
Cậu bé đã tỉnh hẳn, nhưng vẫn còn tiếc giấc ngủ.
Ông lão đáp:
– Ngon lắm, Manôlin ạ, hôm nay ta thấy vững bụng lắm.
– Cháu cũng vậy. Để cháu chạy đi lấy phần cá nục của ông và của cháu,
với con mồi tươi cho ông. Đằng cháu ông chủ mang lấy đồ nghề đi.
Không ai được quyền mó đến.
– Mỗi người một lối. Với ta ngay khi cháu mới lên năm ta đã để cho cháu
muốn mang thì gì mang.
– Cháu biết. Cháu trở lại ngay. Ông uống thêm một cái cà-phê nữa đi. Ở
đây uống chịu được.
Chân đất chạy trên những tảng san hô, cậu bé đi đến kho lạnh để lấy mồi
trữ ở đó.
Ông lão uống cà phê chậm rãi từng ngụm một. Suốt từ giờ cho tới tối ông
lão chỉ có một món này vào bụng, ông thấy cần phải uống. Từ lâu lắm ông
lão thấy ngán cả ăn, không bao giờ ông mang theo đồ ăn nguội. Chỉ có một
chai nước lạnh ở mũi thuyền: như thế cũng đủ cho suốt cả ngày.
Cậu bé mang về một ít cá nục và hai bộ mồi bọc trong mảnh giấy báo. Hai
người đi vào con đường nhỏ chạy thẳng xuống chỗ neo thuyền, chân dậm
trên cát sỏi. Hai người nhắc bổng chiếc thuyền lên và đẩy xuống mặt nước.
– May mắn, ông nhé.
– Cháu cũng may mắn nhé.
Ông lão buộc chèo vào cọc rồi cắm chèo xuống nước đu người ra phía
trước lấy đà và bắt đầu chèo, bơi mò ra khỏi bến. Có nhiều thuyền khác, từ
các bến khác, cùng tiến ra khơi. Ông lão nghe tiếng mái chèo vỗ nước,
nhưng không trông thấy chi hết, trăng đã lặn phía sau mấy ngọn đồi.
Thỉnh thoảng có tiếng người nói trên một thuyền nào. Hầu hết các thuyền
đều im lặng, chỉ nghe rõ tiếng mái chèo. Ra khỏi bến, các thuyền đều tản
mạn đi, mỗi thuyền tiến về một góc đại dương, nơi mong có cá. Ông lão
biết rằng phải ra rõ xa; mùi nội địa để lại phía sau lưng; mỗi mái chèo lại
đẩy ông lão vào thêm trong làn hương tinh khiết buổi sớm mai trên mặt
biển. Dưới nước ông lão trông thấy rõ những mớ rong lóng lánh sáng giữa
dòng lưu loan: thuyền đương ở trên một vùng biển mà dân chài đặt tên là
Hồ Lớn, nguyên do bởi ở đó biển bỗng nhiên sâu xuống tới ngàn rưỡi
thước, cá tụ ở đó rất nhiều do những luồng sóng vỗ mạnh vào vách đá
dưới đáy biển. Có từng đàn đặc những tôm và cá nục, những khoảng thật
sâu đôi khi có những đám cá mực quy tụ; đêm đến chúng ngoi lên mặt biển
làm mồi cho những chú cá lớn lang thang qua đó.
Tuy còn tối trời ông lão đã độ chừng sắp sáng. Vừa bơi ông lão vừa nghe
thấy tiếng động của những con cá bay nhảy lên khỏi mặt nước, đôi cánh
cứng đơ vụt lướt trong đêm tối. Ông lão thích những con cá bay lắm, đó là
những bạn độc nhất của lão ở giữa đại dương. Ông lão thương hại mấy
con chim quá, nhất là những chú én, bộ lông màu sậm coi thật ẻo lả, luôn
luôn bay lượn tìm mồi mà thường chẳng bao giờ gặp. Ông lão nghĩ: “Loài
chim cuộc sống còn cam khổ hơn mình, ngoại trừ lũ chim khách chuyên ăn
cắp và mấy mãnh chim ưng lớn. Hóa công cũng kỳ cục, tạo ra những con
én bé xinh, ẻo ớt, giữa đại dương tàn nhẫn. Đại dương đẹp lắm, đáng yêu
lắm nhưng phút chốc có thể trở thành tàn nhẫn, vô cùng tàn nhẫn. Những
con chim đương bay kia, lát lại nhào xuống biển để săn mồi, tiếng kêu
buồn thảm, thật mảnh dẻ quá đối với đại dương”.
Ông lão gọi đại dương là la mar, danh từ bình dân Tây Ban Nha mọi người
dùng để chỉ đại dương khi họ thấy quý mến đại dương. Đôi khi người ta
cũng hết lời nguyền rủa nhưng đại dương bao giờ cũng được đặt vào
giống cái, như để chỉ người đàn bà vậy. Một vài dân chài, trong số những
người trẻ tuổi, họ dùng phao kiểu tối tân để buộc vào dây câu và đi nghề
trên những chiếc tàu có động cơ sắm được hồi gan cá mập được giá,
những bạn chài đó gọi đại dương là le mar, giống đực. Bọn này coi biển cả
như một đối phương, một cứ điểm hay một thù địch nữa. Nhưng với ông
lão, đại dương vẫn là la mar, một cái gì nó ban cho hay nó từ chối những
ân huệ lớn. Nếu la mar có xử sự như một con điên hay một ác phụ, cũng
bởi nàng không thể làm khác được. Ông lão nghĩ: mặt trăng luôn luôn phá
rối nàng như phá rối một phụ nữ.
Ông lão vẫn bơi, không phải cố gắng một chút nào vì cái đà lướt đi của
thuyền vẫn giữ đều và mặt nước phẳng lặng trừ một vài đợt sóng nhỏ do
dòng nước gợn lên. Một phần ba công việc chèo thuyền đi là nhờ dòng
nước trôi. Khi mặt trời bắt đầu ló lên, ông lão đã đi được quá phần đường
đã định.
Ông lão nghĩ thầm: “Cả một tuần nay thả lưới tại những quãng sâu chẳng
được một con nào. Hôm nay ta phải tìm những đàn cá giác hay cá bạc may
ra sẽ kiếm được con cá thật lớn”.
Trước khi trời sáng rõ ông lão đã thả xong mồi. Dòng nước cứ đẩy thuyền
trôi đi. Ông lão thả một con mồi xuống sâu tới bốn mươi sải; con thứ hai
tới bảy mươi sải; con thứ ba và thứ tư ngao du mãi tận dưới nước xanh, tới
một trăm và một trăm hai mươi lăm sải. Mỗi con đều thả cái đầu chúc
xuống, lưỡi câu giấu kỹ trong giữa thân con cá mồi, buộc thật chặt, khâu
lại kỹ lưỡng, những gai nhọn hay những khúc dây thép uốn cong đều có cá
nục tươi che kín. Những con cá nục xâu liền qua hai mắt trông như một
tràng hoa phủ kín những sợi thép. Không một li dây thép nào mà các chú cá
lớn không thấy ngon lành thơm tho.
Cậu bé cho ông lão hai con cá thu nhỏ thường gọi là cá bạc. Ông lão buộc
hai con mồi đó vào dây câu thả xuống sâu nhất, con mồi nặng chĩu như hai
hòn chì; hai sợi kia ông lão buộc một cá runner lớn màu xanh và một con
cá măng màu vàng, hai con mồi này đã dùng hôm qua nhưng nay còn dùng
lại được. Sợi nào cũng buộc thêm những con cá nục cho thêm ngon mắt.
Mỗi sợi dây câu bề to bằng một chiếc bút chì hạng đại đều buộc vào cái
phao rất nhẹ bằng gỗ màu lục; mỗi khi đụng tới con mồi là cái phao chìm
ngay xuống. Ông lão còn sẵn hai cuộn dây mỗi cuộn bốn chục sải, khi cần
đến có thể đem nối thêm vào những sợi dây dự phòng, thành ra nếu một
con cá mắc câu kéo đi ông lão đã có sẵn tới ba trăm sải dây để dòng.
Lúc này ông lão đương chăm chú coi ba cái phao chạy dài theo mạn
thuyền, ông lão bơi nhè nhẹ để giữ cho những sợi dây câu căng thẳng
xuống tận đáy sâu. Trời đã sáng rõ; chỉ trong giây phút là mặt trời sẽ ló ra.
Mặt trời lên khỏi mặt nước, ông lão trông thấy những thuyền câu khác, là
là trên mặt nước, không xa bờ mấy, ngay trên mép dòng nước chảy. Mặt
trời sáng bùng lên, ánh nắng cháy đỏ trên mặt biển; khi mặt trời lên cao
hẳn, ánh sáng phản chiếu xuống mặt gương nước đập thẳng vào mắt lão
khiến lão thấy khó chịu quá, phải vừa bơi vừa quay mặt ra chỗ khác. Lão
trông chừng từng sợi dây câu thả thẳng băng xuống tận đáy sâu; lão biết
giữ cho sợi dây lúc nào cũng thẳng, khéo léo hơn ai hết. Ở mỗi mực sâu,
giữa dòng nước tối đen, ông lão đã có một con mồi ở đúng cái chỗ đã định.
Những bạn chài khác thường mặc cho con mồi trôi theo dòng và nhiều khi
ước lượng chỗ mồi đương đậu sai đến chừng bốn chục sải.
Ông lão tự nhủ: “Riêng ta biết thả mồi đúng cái mức sâu vừa tầm. Vậy mà
chẳng bao giờ được may mắn! Nhưng biết đâu? Biết đâu ngày hôm nay…
Ngày nào cũng vẫn bấy nhiêu ý nghĩ. Cứ kể thì gặp may cũng hay đấy,
nhưng ít nhất ta cũng thạo nghề. Như vậy dịp may đến ta đã sẵn sàng”.
Mặt trời lên cao đã hai giờ đồng hồ rồi, bây giờ ông lão ngó về phía mặt
trời mọc không thấy chói mắt nữa. Còn trông thấy có ba chiếc thuyền câu;
chiếc nào cũng thấp sát mặt nước, rất gần bờ.
“Suốt đời ta đều thế, sáng ra thì bị mặt trời chói mắt, ông lão nghĩ vậy,
cũng may là mắt ta còn tỏ! Đến chiều ta có thể nhìn thẳng vào mặt trời,
không thấy cả những chấm đen. Thường thì buổi chiều mặt trời vẫn chói
hơn! Ban sáng thì thật là khó chịu”.
Trước mặt ông lão một con hải bằng hai cánh dài và đen lượn vòng trên
trời. Bỗng chốc nó nghiêng hai cánh hình tam giác rồi lao xuống, rồi lại
lượn vòng.
Ông lão nói lớn:
“Nó đã tìm thấy con gì đây. Nó nhằm không sai đâu”.
Nhè nhẹ, đều đều, lão bơi lại chỗ con hải bằng đương bay lượn. Ông lão
không hấp tấp; luôn luôn giữ cho mấy sợi dây câu thẳng tắp. Nhưng ông
lão bơi có nhanh hơn dòng nước, tuy rằng bao giờ lão cũng giữ đúng lối
nhà nghề và nếu không có con chim thì bơi như vậy mới gọi là quá nhanh.
Con chim bay cao lên trời, rồi là là hạ xuống lượn vòng; ông lão trông
thấy những con cá bay nhảy lên và bối rối chao cánh trên mặt nước.
Ông lão reo lên:
“Cá hồng! Con lớn lắm!”.
Lão gác mái chèo lên rồi lấy một sợi dây nhỏ cất ở dưới mũi thuyền. Sợi
dây câu có mắc một sợi thép đầu buộc vào một cái lưỡi cỡ vừa, ông lão
móc vào lưỡi một con cá nục quăng dây câu xuống nước qua mạn thuyền
rồi cột vào một cái mấu ở đằng lái. Sau đó lão móc sẵn một sợi dây câu ở
đằng mũi thuyền nhưng giấu trong bóng mát dưới mạn thuyền. Con chim
cánh đen bay là là sát tận mặt nước. Mắt lão không rời con chim, lại bắt
đầu bơi.
Con chim nghiêng cánh, lại lao xuống những con cá bay, hai cánh vỗ tíu tít,
nhưng vô hiệu. Lũ cá hồng thoăn thoắt dưới nước bơi theo đám cá bay, chỉ
chờ mấy con cá bay lặn xuống. Ông lão chăm chú dõi theo những đợt sóng
do đám cá hồng quẫy lên. Ông lão nghĩ: “Một đàn thật đông những cá
hồng. Đầy đặc mọi chỗ. Lũ bay khó lòng thoát khỏi. Con chim sẽ chả xơ
múi gì đâu. Cá bay lớn quá, nó bay nhanh như quỷ ấy”.
Ông lão ngắm những chú cá bay luôn luôn nhảy lên khỏi mặt nước và con
chim nhọc sức cố bắt lấy một con, lão nghĩ: “Lũ cá này chắc muốn chuồn.
Chúng bơi nhanh quá, ra xa quá. Không chừng ta sẽ chộp được một con lẽo
đẽo ở đàng đuôi; cũng có lẽ chú cá khổng lồ của ta đương rượt theo đàn cá
này. Con cá khổng lồ đó, ít nhất ta cũng phải chõm ...
 





