GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường THCS Quyết Thắng
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Van Hoc Viet Nam (1800-1945) - Vu Han

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:06' 26-04-2024
Dung lượng: 965.6 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:06' 26-04-2024
Dung lượng: 965.6 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Tên sách : VĂN-HỌC VIỆT-NAM (1800-1945)
Tác giả : VŨ-HÂN
Nhà xuất bản : Nhà sách KHAI-TRÍ
Năm xuất bản : 1973
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : kehetthoi
Kiểm tra chính tả : Vũ Minh Anh, Nguyễn Minh Khôi,
Võ Ngọc Thùy Trinh, Kim Thoa, Nguyễn Phát An,
Trương Thu Trang, Nguyễn Mỹ Quỳnh Dao
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 11/09/2018
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận «
SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG
BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
Cảm ơn tác giả VŨ-HÂN và Nhà sách KHAI-TRÍ đã chia
sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
MỤC LỤC
LỜI NHẮN GỞI
CHƯƠNG MỞ ĐẦU : MỘT ÍT KHÁI-NIỆM VỀ 2 VẤN ĐỀ
VĂN-HỌC VÀ VĂN-HỌC-SỬ
I. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ DANH TỪ VĂN-HỌC
A) Văn học là gì ?
B) Quan niệm về văn học của người Trung Hoa trước kia
C) Quan niệm về văn học của người Việt-Nam ta ngày nay
II. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ KHOA VĂN HỌC SỬ
A) Văn học sử là gì ? Vài dòng nhận xét về văn học sử
nước Tàu và nước Pháp
B) Nhận xét sơ lược về Văn học sử Việt Nam và những
công tác của cố giáo sư Dương Quảng Hàm cùng các học
giả đương thời
C) Quan niệm của chúng ta đối với vấn đề Văn học sử
CHƯƠNG THỨ I : ĐẠI CƯƠNG VĂN-HỌC VỀ THẾ-KỶ XIX
Ở VIỆT-NAM
I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ TINH THẦN CỦA NỀN VĂN
HỌC THẾ KỶ XIX TẠI VIỆT NAM : VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC THẾ KỶ XIX TẠI
VIỆT-NAM
A) Nhà Nguyễn thống nhất sơn hà vào đầu thế kỷ XIX và
cục diện Âu Châu lúc bấy giờ
B) Xã hội và chính sách nội trị cùng ngoại giao của nhà
Nguyễn
1. Xã hội và nội trị
2. Về ngoại giao
C) Học qui và thi cử dưới đời nhà Nguyễn
III. PHÂN ĐOẠN LỊCH SỬ VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
A) Văn chương tiền bán thế kỷ mười chín (XIX)
B) Văn chương hậu-bán thế kỷ XIX
IV. TÍNH CHẤT ĐẠI CƯƠNG VỀ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC
CỦA NỀN VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
A) Nội dung văn học nhà Nguyễn
1) Khuynh hướng đạo lý
2) Khuynh hướng tình cảm
3) Khuynh hướng thời thế
4) Khuynh hướng trào phúng
B) Hình thức văn học nhà Nguyễn
1) Văn thể
2) Văn Từ
V. KẾT LUẬN
CHƯƠNG THỨ II : ĐẠI CƯƠNG VĂN HỌC THẾ-KỶ XX KỂ
TỪ 1900-1945 (GIAI ĐOẠN TIỀN-BÁN THẾ-KỶ)
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC VÀO KHOẢNG
TIỀN BÁN THẾ KỶ XX TẠI NƯỚC TA (1900-1945)
A) Sơ lược lịch sử trong và ngoài nước
1) Những sự kiện chính trị quốc tế quan trọng sau cuộc
đại chiến thứ I
2) Tình hình quốc nội từ sau cuộc đại chiến lần thứ I và
sau 3 phong trào : Cần Vương, Văn Thân, Duy Tân
B) Chính sách cai trị của thực dân Pháp (kinh tế, chính trị
và giáo dục)
1) Chính sách kinh tế
2) Chính sách chính trị
3) Chính sách giáo dục
II. VAI TRÒ CỦA CHỮ QUỐC NGỮ VÀ NHẮC SƠ QUA NGUỒN
GỐC CỦA THỨ CHỮ NÀY
III. CÁC GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN CỦA CHỮ QUỐC NGỮ
A) Thời kỳ phôi thai
B) Thời kỳ phát triển
1) Báo chí
2) Biên khảo và dịch thuật
3) Thi ca
4) Tiểu thuyết
C) Thời kỳ thịnh hành (1913-1934)
1) Báo chí
2) Biên khảo và tạp chí
3) Thi ca
4) Tiểu thuyết
5) Kịch bản
IV. TÓM LƯỢC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM CẤU TẠO TRONG BA
THỜI KỲ TIẾN TRIỂN CỦA CHỮ QUỐC NGỮ
A) Luận thuyết, khảo cứu, phê bình
B) Dịch thuật
C) Du ký và phóng sự
D) Truyện và tiểu thuyết
1) Truyện của thời kỳ phôi thai
2) Truyện và tiểu thuyết thời kỳ phát triển
3) Truyện và tiểu thuyết của thời kỳ thịnh hành
E) Kịch bản
G) Thi phẩm
V. THAY LỜI KẾT LUẬN
A) Giai đoạn thứ nhất (1905-1925)
1) Điều kiện lịch sử
2) Văn chương
B) Giai đoạn thứ nhì (1925-1945)
1) Điều kiện lịch sử
2) Tình trạng văn chương
CHƯƠNG THỨ BA : LỊCH-SỬ BÁO-CHÍ VIỆT-NAM KỂ TỪ
1905-1945 (GIAI ĐOẠN TIỀN-BÁN THẾ-KỶ 20)
I. SỰ XUẤT HIỆN CỦA BÁO CHÍ VIỆT-NAM
II. TÌNH TRẠNG CHUNG CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM
III. CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM TỪ 19051945
1) Giai đoạn thứ nhất (1905-1914)
2) Giai đoạn thứ hai (1914-1930)
3) Giai đoạn thứ ba (1930-1939)
4) Giai đoạn thứ 4 (1939-1945)
IV. SƠ LƯỢC VỀ 3 NHÓM : NAM PHONG TẠP CHÍ, ĐÔNG
DƯƠNG TẠP CHÍ VÀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
A) Đông Dương tạp chí (1913-1917)
1) Sự thành lập
2) Mục đích
3) Ban biên tập và nội dung Đ.D.T.C.
4) Thành tích
B) Nam Phong tạp chí : (1917-1934)
1) Nguyên nhân và sự thành lập tạp chí Nam Phong
2) Ban biên-tập và nội dung tạp chí Nam Phong
3) Mục đích
4) Thành tích
C) Nhóm Tự Lực Văn Đoàn (1932-1945)
1) Tự Lục Văn Đoàn được thành lập trong hoàn cảnh nào
của đất nước ?
2) Ban biên tập và hình thức hoạt động của Tự Lực Văn
Đoàn
3) Chủ trương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn
4) Thành tích và ảnh hưởng của nhóm T.L.V.Đ.
5) Những khuyết điểm của Tự-Lực Văn-Đoàn
V. TÌM HIỂU SƠ LƯỢC BA TẠP CHÍ ĐỒNG THỜI VỚI TỰ LỰC
VĂN ĐOÀN : THANH NGHỊ – TRI TÂN – TAO ĐÀN
A) Thanh nghị tạp chí
1) Sự sáng lập
2) Mục đích
3) Ban biên tập
4) Thành tích
B) Tri Tân tạp chí
1) Sự sáng lập
2) Mục đích
3) Ban biên tập
4) Thành tích
C) Tao đàn tạp chí
1) Sự sáng lập
2) Mục đích
3) Ban biên tập
4) Thành tích
CHƯƠNG PHỤ LỤC : VĂN CHƯƠNG TlỀN-BÁN THẾ KỶ 20
TẠI VIỆT-NAM
I. VẤN ĐỀ THƠ MỚI
A) Thái độ xét lại của các học giả văn nhân thi sĩ đối với
vấn đề thi ca
B) Sự phát triển của thơ mới từ tiệm tiến đến bột phát
C) Bàn về thể cách Thơ Mới
1) Số câu và số khổ trong bài
2) Số chữ trong câu
3) Cách hiệp vần
4) Điệu thơ
II. VẤN ĐỀ TIỂU THUYẾT
A) Từ phôi thai tiến dần đến phát triển
B) Bước vào thế kỷ 20, tiểu thuyết tiến đến thời thịnh
hành
1) Thời kỳ dịch thuật
2) Thời kỳ sáng tác
C) Truyện và tiểu thuyết khác nhau như thế nào ?
1) Truyện là gì ?
2) Truyện và tiểu thuyết khác nhau ở điểm nào và có gặp
nhau không ?
III. VẤN ĐỀ BÚT KÝ VÀ TÙY BÚT
A) Bút ký là gì ?
B) Tùy bút là gì ?
C) Nguyễn Tuân và tùy bút
IV. VẤN ĐỀ PHÓNG SỰ
A) Phóng sự là gì ?
B) Nội dung và hình thức của văn phóng sự
1) Nội dung
2) Hình thức
C) Kỹ thuật xây dựng các thể văn phóng sự
1) Tính cách báo chí
2) Tính cách văn chương
V. VÀI DÒNG VỀ CÁC TƯ TRÀO VĂN CHƯƠNG THẾ GIỚI
TRONG KHOẢNG TIỀN BÁN THẾ KỶ 20
A) Tính chất đại cương về các tư trào văn học thế giới
B) Điểm qua các tư trào văn học trên thế giới.
1) Khuynh hướng cổ điển
2) Khuynh hướng lãng mạn Pháp, Đức và Anh
3) Khuynh hướng tả thực
4) Khuynh hướng tượng trưng và những giai đoạn suy
đồi của nó
KẾT LUẬN
VŨ-HÂN
GIÁO-SƯ VIỆT-VĂN
BIÊN KHẢO
VĂN-HỌC VIỆT-NAM
Thế-kỷ XIX
Tiền-bán thế-kỷ XX
(1800-1945)
Nhà sách KHAI-TRÍ
62, Đại-lộ Lê-Lợi – SAIGON
Kính dâng Hương hồn phụ thân,
Người đã mở lòng tôi bằng dăm câu lục bát của Nguyễn-Du.
LỜI NHẮN GỞI
Quyển « Văn-học Việt-Nam thế-kỷ XIX, tiền-bán thế-kỷ
XX » đây, lẽ dĩ nhiên không phải là một sáng-tác-phẩm mà
nó chỉ là một tập sách biên khảo nho nhỏ để giúp cho các
bạn học sinh nam-nữ xa gần có một ý-niệm tổng-quát về
một giai đoạn lịch sử văn-học nước nhà : Giai đoạn từ thế-kỷ
19 đến tiền-bán thế kỷ 20 (1802-1945), nghĩa là từ thời cực
thịnh của văn Nôm đến khoảng vươn cao của văn chương
Quốc-ngữ.
Bởi vậy, sau khi biên khảo tập sách nhỏ này, Vũ-Hân tôi
chỉ có 2 điều ước mong rất cụ-thể :
Điều ước mong thứ nhất là cố-gắng làm sao cho tập sách
nhỏ này được ra mắt bạn đọc bốn phương nhất là để nó được
đến với các bạn học sinh nam nữ hiện tại ở bậc Trung-Học
đệ-nhị-cấp, đang hằng ngày cắp sách đến trường hoặc đến
với các bạn vì thiếu điều kiện đến trường mà phải ở nhà « tựhọc », hầu giúp cho họ có thêm chút ít tài liệu về văn chương
đất nước trong khi tra khảo học tập làm bài hoặc soạn bài.
Điều ước mong thứ hai là làm sao cho tập sách nhỏ này
được các bạn Giáo-sư đồng-nghiệp khắp nơi chú ý đến để
nếu có thể, được các bạn góp phần xây dựng thêm cho,
nghĩa là Vũ-Hân tôi rất chân thành mong được các bạn góp
thêm ý kiến hoặc chỉ giáo cho những điểm sai lệch và thiếu
sót mà soạn giả không thể nào tránh khỏi trong khi biên
soạn. Và đồng thời cũng rất mong quý bạn đồng nghiệp giới
thiệu tập tài liệu nhỏ này với những học trò của quý bạn,
khuyên họ nên xem tập sách này như là một phần nào về tài
liệu văn chương Việt-Ngữ để họ có thể dùng đó mà soạn
những bài giải đáp, những câu hỏi về giảng-văn cũng như về
luận văn mà quý bạn sẽ ra cho họ.
Tóm lại, nếu 2 điều ước mong trên được thực-hiện hoàn
toàn thì kẻ « lược khảo » tập « Văn học Việt Nam thế kỷ XIX,
tiền-bán thế kỷ XX » nầy lẽ tất nhiên sẽ vô cùng vui sướng.
Tuy nhiên, trước khi kết thúc mấy dòng nhắn gởi trên đây,
Vũ-Hân tôi xin nguyện mãi mãi ghi ơn các bậc thầy đã dầy
công rèn luyện tôi về môn Việt-ngữ cách đây trên 20 năm đã
gây cho tôi một ý thức sâu đậm về nền văn chương đất nước.
Bên cạnh đó tôi cũng không bao giờ dám quên ơn các bậc
học-giả, các vị giáo-sư đàn anh, vì nhờ những tài liệu về văn
học rất uyên-thâm của quý-vị mà tôi đã hằng ngày nghiêncứu, tìm tòi học tập thêm để trong một thời gian « góp gió
thành bão » mới có thể biên soạn ra được tập sách cỏn con
này…
Đến đây tôi không còn dám dài dòng nhắn gởi nữa, chỉ
kính mong các thầy của tôi trước kia hiện còn sống hoặc đã
quá vãng, mong các bậc học giả, các bậc giáo sư đàn anh
thông cảm cho… và cuối cùng cũng rất mong các bạn họcsinh xa gần nên tìm đến với tôi, tìm để thông cảm tôi qua
mấy chương sách nhỏ sắp bắt đầu lược trình kế tiếp theo
đây…
Đà-nẵng, đầu hè năm Đinh-Mùi (1967)
Người soạn sách
VŨ-HÂN
CHƯƠNG MỞ ĐẦU : MỘT ÍT KHÁI-NIỆM
VỀ 2 VẤN ĐỀ VĂN-HỌC VÀ VĂN-HỌC-SỬ
I. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ DANH TỪ VĂN-HỌC
A) Văn học là gì ?
Đối với nền cổ học Trung Hoa, nhất là với học thuyết
Khổng Mạnh, « văn » là vẻ đẹp (đầy màu sắc), điều hay
(thâm thúy, cao xa). Bởi vậy « Văn học » là một trong tứ
khoa mà các môn đệ Khổng Tử cần phải trau dồi mãi mãi :
văn, hạnh, trung, tín. Cho nên ta có thể nói : « Hạnh, Trung,
Tín » là thuộc phần tư cách đạo đức, còn « văn » thì thuộc về
mặt trí tài. Do lẽ đó, kẻ nào thấu triệt quán xuyến về « văn »
thì được thế nhân gọi là văn nhân thức giả.
B) Quan niệm về văn học của người Trung Hoa
trước kia
Qua thời Dân Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) vấn đề văn
học lại được quan niệm bằng hai cách khác nhau.
1) Phái học giả vào thời kỳ đầu quan niệm rằng : Văn
học tức là dùng văn tự ghi chép lại mọi tư tưởng, mọi lý luận,
phép tắc, v.v… Bởi vậy, theo họ, văn tự học, bách gia chư tử
triết học, sử học, lý học, v.v… đều được gọi là văn học.
Quan niệm văn học của phái học giả này cũng có vẻ
giống với quan niệm của các học giả về thời phong kiến là : «
Trước ư trúc, bạch vị chi văn ; luận kỳ pháp thức vị chi văn
học » (viết trên tre, lụa thì gọi là văn ; bàn đến phép tắc của
nó thì gọi là văn học).
2) Phái học giả về sau nầy vì chịu ảnh hưởng các tư trào
Âu Mỹ nên lại quan niệm vấn đề văn học một cách có giới
hạn hơn. Họ cho rằng chỉ những tác phẩm nào bao hàm ý vị
nghệ thuật, nghĩa là chỉ chuyên tả tình cảm, tưởng tượng,
phô bày cảm giác, cảm xúc mới được gọi là văn học. Như thế
tự nhiên các loại sách về kinh học, triết học, lý học và ngay
cả những danh tác cổ văn mang nặng các tư tưởng về vũ trụ,
nhân sinh, đạo đức cũng bị xem như là không phải văn học.
Tựu trung, theo phái sau nầy, chỉ có thi ca, từ phú, tân văn,
tiểu thuyết, kịch tuồng, bút ký, v.v… mới được mệnh danh là
văn học mà thôi.
C) Quan niệm về văn học của người Việt-Nam ta
ngày nay
Ngày nay ở nước ta, ảnh hưởng từ trào Đông, Tây, kim cổ
này ngày càng sâu rộng, quan niệm về 2 chữ văn học lẽ tất
nhiên phải được mới mẻ và xác đáng hơn. Do đó môn quốc
văn phải được đề cao và sẽ chiếm một địa vị quan trọng trên
mọi ngành học thuật.
Với một quan niệm mới mẻ và xác đáng như thế những
yếu tố mà trước kia các học giả ta đã đặt nặng cho văn học
như : học qui, khoa cử, từ chương, cú pháp, Hán văn, tam
giáo (Nho, Thích, Lão), v.v… đều không phải là phần cốt yếu
của văn học nữa.
Mà phần cốt yếu của văn học, cái đối tượng chính của văn
học Việt Nam là các sáng tác phẩm bằng quốc âm, tức là
những áng danh tác bằng văn nôm trước kia hay bằng chữ
quốc ngữ về sau nầy vậy. Ngoài ra, bao nhiêu kho tàng Hán
văn quí báu của tiền nhân để lại đều không thể liệt nhập vào
lĩnh vực của văn học Việt Nam được. Vì nền văn học một
quốc gia, một dân tộc không thể xây dựng bằng văn tự nước
ngoài. Cho nên cái kho tàng « Văn học Hán Việt » của ta vốn
sẵn còn lại đó chỉ đáng xem như là những tài liệu quí giá để
giúp ta soi sáng, hoặc đi sâu vào sự tìm hiểu các tác giả, các
tác phẩm bằng văn nôm ngày trước hiện còn lưu lại mà thôi.
Tóm lại, hai chữ văn học của ta ngày nay cần phải nhận
định với 3 ý nghĩa dưới đây :
1. Văn học của một quốc gia là toàn thể những công trình
sáng tác về văn vần cũng như văn xuôi viết bằng tiếng mẹ đẻ
của quốc gia ấy.
2. Nó không chỉ những là thi ca, tiểu thuyết, kịch tuồng,
ký sự mà còn phải bao quát tất cả công trình về triết lý, sử
ký, khoa học xây dựng có nghệ thuật, có kiến trúc mỹ lệ gây
được nhiều hứng thú văn chương tuyệt vời.
3. Văn học còn có nghĩa là một khoa học, một khoa
nghiên cứu về các tác phẩm văn chương mỹ lệ tuyệt vời nói
trên.
II. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ KHOA VĂN HỌC SỬ
A) Văn học sử là gì ? Vài dòng nhận xét về văn học
sử nước Tàu và nước Pháp
Nói tóm một câu, văn học sử là lịch sử tổng quát về các
thời đại văn học, tiểu sử các tác giả và sự nhận định giá trị về
nội dung cùng hình thức các tác phẩm tiêu biểu nhất của họ.
Bởi vậy nước nào có một nền văn học tương đối quy mô, tất
nhiên nước ấy phải có văn học sử.
Pháp có văn sử Pháp, Trung Hoa có Văn Học Trung Hoa,
Việt Nam cũng có văn học sử Việt Nam và khoa chuyên
nghiên cứu các nền văn học sử ấy gọi là khoa văn học sử.
Ở Pháp, khoa văn học sử phát minh từ hơn một thế kỷ
nay và dần dần tiến theo sự tiến bộ của sử học. Xưa kia,
khoa văn học sử Pháp chỉ là những áng văn phê bình mang
nặng tâm khí và thiên kiến của phê bình gia hơn là nói rõ về
tác giả và tác phẩm. Nhưng vào đầu thế kỷ XIX các học giả
mới chịu đổi mới lối phê bình cũ mà làm việc theo phương
pháp khoa học, theo gương các sử gia chuyên tâm tìm tòi sự
thực về giá trị tác phẩm, sự thực về cuộc đời tác giả, về hoàn
cảnh xã hội mà họ đã hoặc đang sống, v.v… gạt bỏ chủ quan
mỗi khi đem các văn kiện ra suy cứu và thẩm định. Do đó,
môn phê bình văn học chính thức thành khoa văn học sử.
Sainte-Beuve là nhà văn học sử đầu tiên đã có công xây đắp
nền móng cho tòa lâu đài văn học sử Pháp.
Ở Trung Hoa, nền văn học đã thành qui mô trên 3000
năm, nhưng mãi cách đây trên nửa thế kỷ Lâm truyền Giáp,
một giáo sư Đại học, mới viết tập « Trung quốc văn học sử ».
Đó là quyển lịch sử văn học Trung Hoa đầu tiên chính thức
xuất bản vào năm Tuyên Thống thứ hai. Từ đó, quan niệm
người Tàu về Văn học sử càng ngày càng tiến triển theo tư
trào Âu Mỹ… Cho nên qua thời kỳ dân quốc, khoa văn học sử
càng nẩy nở phồn thịnh, kể đến nay đã có hơn 50 bộ văn học
sử ra đời.
B) Nhận xét sơ lược về Văn học sử Việt Nam và
những công tác của cố giáo sư Dương Quảng Hàm cùng
các học giả đương thời
Trong công việc xây dựng nền văn học quốc gia, riêng ở
Việt Nam ta môn Văn học Sử dần dần thành hình bắt đầu từ
khoảng hạ bán thế kỷ 19 cho đến ngày nay.
Từ hạ bán thế kỷ 19 nước ta bị đặt dưới quyền Pháp đô
hộ, tức thì Pháp văn thay thế cho Hán văn. Nhờ đó, chữ quốc
ngữ tự nhiên chiếm địa vị khả quan dần trong chương trình
học mới.
Thêm vào đó, qua sự trung gian của sách vở Pháp các tư
trào Âu Tây rầm rộ du nhập vào đất nước ta… Lại còn những
tân thư Trung quốc luôn luôn tìm cơ hội truyền sang, phong
trào Nhật-Bản Duy tân từ bể Đông dội đến, rồi tin Nhật chiến
thắng quân đội Nga Hoàng (1905) vang dậy khắp nơi… cũng
thúc đẩy sĩ phu trí thức Việt Nam hăng hái biên khảo, sáng
tác bằng tiếng Việt, gây cơ sở cụ thể cho nền quốc gia văn
học sau nầy : tiếp đến, ở địa hạt sư phạm, môn Văn Học Sử
Việt Nam được bắt đầu xây dựng nhờ công lao và thiện chí
của 2 vị giáo sư tiên phong : Giáo sư G. Cordier và giáo sư
Dương Quảng Hàm. Chính 2 vị nầy đã soạn thảo trước hết
những khóa trình về Việt Văn và giới thiệu các tác phẩm Hán
Việt cho các bạn trung học Pháp, Việt.
Tuy nhiên, công trình của Dương Quảng Hàm mới thật là
đáng kể. Ông Hàm là một vị giáo sư lão thành, tinh thông cả
Tây lẫn Hán học, vừa chịu ảnh hưởng cổ truyền về văn học
Đông Phương, vừa tiếp nhận các trào lưu tư tưởng cùng học
thuật mới Tây Phương nhất là của Pháp… Do đó, làm sách
Việt-văn, chép văn học sử Việt Nam, ông đã noi theo gương
của các nhà văn học sử Pháp hồi đầu thế kỷ 20, nghĩa là ông
thiên về sử nhiều hơn là thiên về văn chương bằng cách chỉ
cố tâm sưu tầm văn liệu rồi dồn lại để phân trần, biện hộ,
v.v… Trong khi biên soạn, ông lại còn quan niệm rằng văn
học Việt-Nam phải gồm cả những tác phẩm vừa bằng Hán
văn, vừa bằng văn Nôm hoặc bằng chữ Quốc ngữ do người
Việt sáng tác. Thật giống với ngày nay, có một vài học giả
cũng cho rằng các tác phẩm bằng Pháp văn của Văn Nhân
nước Việt rất đáng được nằm trong kho tàng Văn học ViệtNam.
Đồng thời với Dương Quảng Hàm, các học giả trong 2
nhóm « Nam Phong tạp chí » và « Đông Dương tạp chí »
cũng rất lưu tâm đến vấn đề tìm tòi biên khảo các văn liệu
nước nhà. Nhưng các tài liệu văn học được các vị ấy cho đăng
tải trên 2 tờ tạp chí đó vẫn còn trong phạm vi khảo luận eo
hẹp, chưa lấy gì làm chắc chắn lắm.
Bên cạnh các vị trong 2 nhóm tạp chí kể trên lại còn một
số học giả gồm có các ông như : Lê Dư, Bùi Kỷ, Trần văn
Giáp, Nguyễn văn Tố, Hoàng xuân Hãn, với một quan niệm
rộng rãi hơn, đã dày công tìm lục những áng cổ văn để đưa
ra đối chiếu, hiệu đính lại đích xác cho khỏi cái nạn « Tam
sao, thất-bổn ». Thành tích cải tiến văn học này của các vị
học giả vừa kể đều được cho in thành sách hoặc được thấy
trong các mục thi văn cổ của những tập san, tạp chí như : Trí
Tri, Khai Trí, Tiến Đức, Tri Tân, Thanh Nghị, v.v… Nhất là
công trình hiệu đính biên khảo các văn liệu của 3 ông Giáp,
Tố, Hãn, khả dĩ đáng tin cậy vì các vị nầy rất sẵn điều kiện
quý báu để làm việc, sẵn kiến thức uyên thâm, kiên tâm lớn
và phương pháp rất khách quan rất khoa học.
C) Quan niệm của chúng ta đối với vấn đề Văn học
sử
Rồi từ sau những chính biến 1945 cho đến nay, quốc gia
Việt Nam bắt đầu thoát ly ách ngoại thuộc, lẽ tất nhiên môn
Việt Văn và khoa Văn học sử cần phải được quan niệm lại
một cách rõ ràng và đúng đắn hơn để tỏ cho thế giới biết
rằng dân tộc ta đã có một trình độ văn học rất có giá trị quốc
tế. Bởi vậy, ngày nay chúng ta không nên ngộ nhận rằng văn
học sử là một khoa hoàn toàn ghi chép những văn kiện dĩ
vãng như sự ghi chép lịch sử, có bao nhiêu chép lại bấy
nhiêu, không cần phân biệt cái nào là ngoại lai, cái nào là
thuần túy của dân tộc. Trái lại chúng ta nên dứt khoát quan
niệm rằng Văn học sử Việt Nam không thể nhận các di văn
bằng chữ Hán trước kia hoặc bằng chữ Pháp sau nầy do
người Việt sáng tác để làm sử liệu văn học. Sử liệu chính của
nền Văn học Việt Nam phải là toàn thể những di văn, những
sáng tác bằng tiếng Việt do người Việt ghi theo lối truyền
khẩu, chép lại bằng văn nôm trước kia hoặc bằng chữ Quốc
ngữ hiện thời.
Tóm lại, Văn học sử là một cái nhìn bao quát vì văn học là
cuộc sống, là tâm hồn có mật thiết liên quan đến thiên nhiên,
thế hệ và xã hội của từng mỗi dân tộc trên thế giới từ xưa tới
nay. Cho nên, khảo cứu văn học, chép văn học sử của một
dân tộc tức là tìm hiểu sức sống của dân tộc ấy, theo dõi thời
kỳ nó phát sinh, thời gian nó trưởng thành và biến hóa trên
trường lịch sử về cả hai phương diện hình thức và nội dung.
Xây dựng khoa Văn học sử Việt Nam cũng không ngoài
các quan niệm và nguyên lý cùng nguyên tắc kể trên.
CHƯƠNG THỨ I : ĐẠI CƯƠNG VĂN-HỌC
VỀ THẾ-KỶ XIX Ở VIỆT-NAM
I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ TINH THẦN CỦA NỀN VĂN
HỌC THẾ KỶ XIX TẠI VIỆT NAM : VĂN HỌC NHÀ
NGUYỄN
Có thể nói thế kỷ thứ XIX ở Việt Nam là một thế kỷ rất
quan trọng về lịch sử chính trị cũng như về lịch sử văn
chương nhất là văn chương chữ nôm trong giai đoạn cực
thịnh của nó mà chúng ta sắp thảo luận riêng dưới đây.
Nhìn chung, do 3 phương diện chính trị, xã hội, kinh tế
của thế kỷ thứ XIX tại nước ta biến chuyển quá mạnh nên
nền văn học sản phẩm của 3 điểm vừa nói đó chiếm một địa
vị vô cùng quan trọng để phản ảnh một cách trung thực hiện
trạng của xã hội Việt Nam trong thời đại bấy giờ.
Nhìn sâu hơn nữa về phương diện khác nền văn học của
thế kỷ XIX ở Việt Nam sở dĩ được chói lọi là nhờ ngọn đuốc
chữ nôm rực rỡ chói sáng. Văn chương chữ nôm của thế kỷ
XIX đã bước vào thời kỳ thứ 3 của nó, thời toàn thịnh. Nó
toàn thịnh trong phong phú về nội dung lẫn hình thức. Đã thế
mà ngọn đuốc văn học « nôm na » này lại được một số đông
thiên tài nêu cao ngày càng chói lọi trong toàn một thế kỷ để
xây dựng vô số sáng tác mà những kiệt phẩm đâu phải là
hiếm hoi gì… Ta có thể tự hào rằng văn chương thế kỷ thứ
XIX nhất là văn nôm ở nước ta đã gây được một mối thống
nhất về phẩm cũng như về lượng mà từ Nguyễn Du đến Trần
Tế Xương trên dưới đến 30 vị lừng danh đã góp sức vào. Và
mặc dù thời đại làm cho họ có những tình cảm và khuynh
hướng khác nhau, năng khiếu gây cho họ có những hình thức
văn loại khác nhau, nhưng họ, từ Nguyễn Du đến Trần Tế
Xương là cả một quần tinh xán lạn trên nền trời văn học nước
nhà dưới thế kỷ XIX. Có thể nói với « Đoạn Trường Tân
Thanh », với những nụ cười châm biếm, Nguyễn Du và Trần
Tế Xương đã mở và đóng cái kỷ nguyên văn học nầy. Mà cái
kỷ nguyên văn học nầy, soạn giả của bất cứ bộ văn học sử
nào cũng đều trịnh trọng mệnh danh là « nền văn chương
triều Nguyễn ».
II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC THẾ KỶ XIX
TẠI VIỆT-NAM
A) Nhà Nguyễn thống nhất sơn hà vào đầu thế kỷ
XIX và cục diện Âu Châu lúc bấy giờ
Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi khai sáng triều Nguyễn
và đem lại cho bề ngoài của quốc gia một vẻ thống nhất và
thái bình, sau 200 năm nội chiến. Bộ mặt thống nhất và thái
bình nầy hiện ra trên đất nước có thể kể từ đời Gia Long cho
đến giữa triều Nguyễn vua Tự-Đức là thời sơ diệp nhà
Nguyễn, vào khoảng tiền bán thế kỷ XIX. Trong khi ấy, khoa
học Tây phương tiến bộ mạnh, làm thay đổi cả cục diện hoàn
cầu. Nhờ sự tiến bộ của khoa học, nhất là khoa học cơ khí,
phương tiện giao thông được canh tân vượt mức. Với những
tàu bè chạy bằng động cơ, nhanh chóng và tiện lợi, người các
nước Tây phương thi nhau đi khắp thế giới tìm kiếm thị
trường và chiếm lĩnh vực thuộc địa để bành trướng thế lực.
Trước tình thế mới ấy, vua quan nhà Nguyễn vẫn khư khư
giữ chính sách nội trị ngoại giao cũ và phép học phép thi theo
lề lối xưa.
Đó là nguyên do tất cả các việc quan trọng đã xảy ra
trong lịch sử Việt-Nam về thời đại cận kim mà kết quả là cuộc
đô hộ của người Pháp.
Để hiểu rõ tình trạng văn học nước ta trong hoàn cảnh
lịch sử ấy, ta cần xét qua về chính sách nội trị cùng ngoại
giao và học quy dưới triều Nguyễn, trong các đời vua MinhMệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (18481883) như sau :
B) Xã hội và chính sách nội trị cùng ngoại giao của
nhà Nguyễn
1. Xã hội và nội trị
Triều đình nhà Nguyễn theo chính sách thủ cựu. Toàn dân
chia làm 4 hạng : sĩ, nông, công, thương. Đứng đầu là sĩ tức
là phái nhà nho, theo giáo lý Khổng Mạnh, trọng luân thường
đạo nghĩa, giữ trật-tự tôn ti. Những người giúp vua trị nước
được tuyển lựa trong hạng này. Nhưng phần nhiều kẻ sĩ hồi
đó thường câu nệ, cố chấp, nặng đầu óc bảo thủ, thiếu sáng
kiến, phát minh chuộng văn chương, khinh thực nghiệp nên
kiến thức hẹp hòi, không nghĩ xa trông rộng. Thứ là nông tức
đa số thường dân cổ cày vai bừa, dẻo dai chịu đựng, nhưng
chỉ biết quyến luyến quê hương với lề lối làm việc cổ lỗ thô sơ
cùng những tập tục phần nhiều lạc hậu. Còn 2 hạng công và
thương có thể gọi là không đáng kể, vì công nghệ, chỉ là
những thủ công nghệ thô sơ truyền lại từ bao đời mà không
hề được cải tiến ; còn thương mại thì dĩ nhiên không được
phát đại trong một xã hội « dĩ nông vi bản » như xã hội ta
thời bấy giờ.
Trước tình thế mới, cách tổ chức xã hội ta thời bấy giờ
quá xưa và quá đơn giản ấy dĩ nhiên là không hợp thời. Thế
mà vua quan, sĩ thứ nước ta thời ấy vẫn u mê không hay biết
gì. Vua và triều đình vẫn cứ giữ lề lối cũ, việc nội trị rập theo
đúng khuôn mẫu Trung Hoa không hề nghĩ đến sự canh tân,
nên nước yếu dân nghèo, nghiễm nhiên tự liệt vào hàng quốc
gia chậm tiến.
2. Về ngoại giao
Vì chủ trương « Bế môn tỏa cảng » đóng cửa không giao
thiệp với người nước ngoài. Vì có chủ trương hẹp hòi ấy, nên
vua và triều đình hồi đó nhất quyết không cho người ngoại
quốc vào thông thương (nhiều lần các nước Anh, Pháp sai sứ
sang xin giao hảo và ký thương ước đều bị cự tuyệt), một
mặt cấm các giáo sĩ người Âu truyền đạo thiên chúa, cho là
họ đem truyền những tà thuyết trái với chế độ phong tục
nước ta.
C) Học qui và thi cử dưới đời nhà Nguyễn
Chính sách nội trị ngoại giao đã có nhiều khuyết điểm,
việc học hành thi cử cũng không hơn gì ! Sĩ phu chỉ nhai đi
nhai lại mấy bộ tứ thư, ngũ kinh, bắc sử… mài miệt lối văn cử
nghiệp, trích cú tầm chương, quá chuộng hư văn mà xao lãng
cái học thực dụng, truyện cổ nước Tàu thì đọc vanh vách mà
việc mới năm châu thì mù mịt không hay.
Cách tổ chức việc học việc thi dưới triều nhà Nguyễn vẫn
là những phép tắc cũ, phỏng theo quy củ đời Hậu Lê.
Về việc học : Toàn quốc chỉ có một trường lớn là Quốc
Tử Giám ở kinh đô. Ở các tỉnh, huyện thì có các chức đốc
học, huấn đạo, giáo thụ. Còn bực tiểu học quan trọng nhất
thì chính quyền lại không lưu tâm đến và phó mặc tư nhân
(các ông đồ) đảm nhiệm.
Về việc thi : cũng vẫn có hai khoa chính là thi hương và
thi hội (3 năm 1 lần) và chương trình thì cũng vẫn có thơ
phú, kinh nghĩa, văn sách, tứ lục.
Tuy vậy, nếu kể về phương diện sáng tác trong lĩnh vực
văn Nôm thì nền văn học nhà Nguyễn có những đặc điểm rất
đáng kể trong hai giai đoạn tiền và hậu bán thế kỷ của nền
văn học đó mà chúng ta cần đem phân đoạn và tìm hiểu dưới
đây :
III. PHÂN ĐOẠN LỊCH SỬ VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
Ta cũng có thể chia lịch sử văn chương Việt Nam của thế
kỷ XIX ra làm 3 thời kỳ như giáo sư Dương Quảng Hàm đã
phân đoạn trong bộ « Việt Nam văn học sử yếu » của ông :
1) Thời Nguyễn sơ.
2) Thời kỳ tiền Pháp xâm.
3) Thời kỳ hậu Pháp xâm.
Nhưng phân đoạn như thế e rằng thiếu sự cân đối giữa 3
thời kỳ vì trong giai đoạn Nguyễn sơ rất ít sự kiện văn
chương đáng ghi chú. Vậy theo ý kiến hữu lý của một số học
giả, ta thử chia văn chương thế kỷ thứ XIX ở Việt Nam ra làm
2 thời kỳ song song với hai thời bình, loạn của lịch sử chính
trị và xã hội ở nước ta về thế kỷ đó.
Chia như thế là cốt dựa vào hai tính chất bình, loạn của
lịch sử ấy để dễ nhận định tư tưởng và khuynh hướng của các
văn thi gia. Chứ thật ra ở Việt Nam, nhất là ở Á Đông, văn
chương khó phân được thời đoạn rành mạch.
A) Văn chương tiền bán thế kỷ mười chín (XIX)
Như đã nói ở phần bối cảnh lịch sử chung về văn chương
của thế kỷ XIX, giai đoạn tiền bán thế kỷ này là 1 thời kỳ lịch
sử tương đối có được cảnh thái bình trên toàn cõi đất nước.
Cảnh tượng khả dĩ thái bình nầy có thể kể từ năm vua Gia
Long lên ngôi đến nửa triều Tự Đức tức là từ năm 1802 đến
độ 50 năm kế tiếp.
Tuy nhiên, người ta cũng không quên trong thời kỳ thái
bình đó. Những cuộc bạo động và biến loạn liên tiếp xảy ra
dưới thời Minh Mạng và Tự Đức. Vua Gia Long lên ngôi ; sơn
hà được thống nhất, triều đình được tổ chức kỷ cương, đối với
các sĩ phu cựu thần của Lê triều, nhà vua có một thái độ
khôn khéo. Rồi Minh Mệnh, Thiệu Trị, và Tự Đức lần lượt kế
vị, nội chính liên tục củng cố, ngoại giao vẫn giữ một chính
sách cổ truyền.
Rồi biến loạn và bạo động liên tiếp xảy ra trong nước làm
cho quan quân mà nhất là cụ Nguyễn Công Trứ thêm hào
hứng trên đường đi lập công và cùng làm cho các sĩ phu ngày
đêm hô hào dân chúng phải giữ đạo tôi con, hiếu trung khắc
cốt. Tất cả những sự kiện lịch sử ấy đã gây cho thời kỳ tiền
bán thế kỷ XIX một nền văn chương cổ điển cực thịnh. Nhưng
trong cái khung văn chương cổ điển quy mô như triều cương
và nội chính của thời sơ Nguyễn, tình cảm và bản ngã của
văn nhân thi sĩ vẫn được bộc lộ rõ ràng qua từng giai đoạn
của thời kỳ.
Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo phận mình ra sao ?
Hay là : Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Đền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Hoặc : Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, v.v…
Và : Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Cuối cùng những câu như :
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Hay là : Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa
Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu
Thờ cha sớm viếng khuya hầu.
Hoặc : Nhà dột vài ba gian, một thầy, một cô, một chó
cái,
Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười
ươi.
Tất cả những câu thơ dẫn chứng trên phải chăng đã nói
lên được phần nào tình cảm và bản ngã của các tác giả cổ
điển trong giai đoạn tiền bán thế kỷ XIX, giai đoạn nhà
Nguyễn bề ngoài tương đối còn tỏ vẻ thanh bình và có nhiều
uy lực ?
B) Văn chương hậu-bán thế kỷ XIX
Hết tương đối yên tĩnh đến triệt để rối ren, hậu bán thế
kỷ XIX là một thời mà nước ta lâm vào thế tao loạn. Bên
trong, suốt nửa đời Tự Đức kể về sau, giặc giã nổi lên. Bên
ngoài chính sách « đóng ải, tỏa bến » của triều đình gây ra
cuộc tranh chấp với Tây phương. Rồi từ hòa ước nầy đến hòa
ước nọ, nước ta mất trọn chủ quyền vào tay đế quốc Pháp. Sĩ
phu cùng với nhân dân tìm mọi cách chống lại kẻ xâm lược.
Đây, đó lòe lên những ngọn lửa Cần Vương. Rồi phong trào
xuất dương sôi nổi vì người ta tin rằng biết đâu vấn đề du
học ngoại quốc sẽ có nhiều hiệu lực như vấn đề cầu cứu
ngoại viện để thu phục lại sơn hà. Thời thế đó đẩy Nho học
đến chỗ suy tàn. Văn hóa Âu Tây được dịp xâm nhập vào bờ
cõi nước ta cuồn cuộn như làn sóng mạnh.
Nước ta tiếp nhận một cách vừa lạ lùng, ngơ ngác vừa
phục thiện và thích thú cả một kỷ nguyên cơ khí dựng trên
nền kinh tế tư bản. Thế là khuôn thước tư tưởng nghìn xưa
lại bị sụp đổ, trật tự xã hội cũ của nước ta lúc bấy giờ bị các
tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, cá nhân chủ nghĩa, duy lý
chủ nghĩa, từ bên ngoài ùa vào xáo trộn, trật tự xã hội,
khuôn vàng thước ngọc của Khổng Mạnh bị sứt mẻ, lẽ tất
nhiên nền văn chương từng khuôn rập với tư tưởng cũ và xã
hội cũ phải đổi lối thay bình. Thế nghĩa là nền văn chương cổ
điển của thời tiền bán thế kỷ 19 qua thời hậu bán thế kỷ 19
tao loạn nầy tự nhiên phải biến chứng rồi tan rã.
Nếu không, tại sao một Tự Đức đang đạo đức và nghiêm
trang bỗng trở nên ủy mị và có vẻ lãng mạn trước cái chết
của Thị Bằng, một người Ái phi của ngài :
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi…
Rồi từ Tự Đức mê si đến Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê,
Dương Lâm đa tình, bay bướm và ưa thích hòa mình trong
khoái lạc : « Cho hay danh sĩ với giai nhân, cùng một kiếp
hoa nghiêm nặng nợ… ngán nỗi non xanh, đất đỏ, để riêng ai
lưu lạc, đau lòng ». (Chu-Mạnh-Trinh – Tựa Truyện Kiều).
Hoặc :
Thôi đừng mang lão lệ với đàn tranh
Kìa kỹ nữ cũng thương sinh đâu đấy nhỉ ?
Mảnh ti trúc ai là tri kỷ
Ngón tỳ bà năn nỉ với ai đây ?
(Dương Lâm)
Tuy nhiên cũng có một số văn nhân thi sĩ rất đa tình,
nhưng không đa tình trong trăng, hoa, đàn...
Tác giả : VŨ-HÂN
Nhà xuất bản : Nhà sách KHAI-TRÍ
Năm xuất bản : 1973
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : kehetthoi
Kiểm tra chính tả : Vũ Minh Anh, Nguyễn Minh Khôi,
Võ Ngọc Thùy Trinh, Kim Thoa, Nguyễn Phát An,
Trương Thu Trang, Nguyễn Mỹ Quỳnh Dao
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 11/09/2018
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận «
SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG
BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
Cảm ơn tác giả VŨ-HÂN và Nhà sách KHAI-TRÍ đã chia
sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
MỤC LỤC
LỜI NHẮN GỞI
CHƯƠNG MỞ ĐẦU : MỘT ÍT KHÁI-NIỆM VỀ 2 VẤN ĐỀ
VĂN-HỌC VÀ VĂN-HỌC-SỬ
I. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ DANH TỪ VĂN-HỌC
A) Văn học là gì ?
B) Quan niệm về văn học của người Trung Hoa trước kia
C) Quan niệm về văn học của người Việt-Nam ta ngày nay
II. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ KHOA VĂN HỌC SỬ
A) Văn học sử là gì ? Vài dòng nhận xét về văn học sử
nước Tàu và nước Pháp
B) Nhận xét sơ lược về Văn học sử Việt Nam và những
công tác của cố giáo sư Dương Quảng Hàm cùng các học
giả đương thời
C) Quan niệm của chúng ta đối với vấn đề Văn học sử
CHƯƠNG THỨ I : ĐẠI CƯƠNG VĂN-HỌC VỀ THẾ-KỶ XIX
Ở VIỆT-NAM
I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ TINH THẦN CỦA NỀN VĂN
HỌC THẾ KỶ XIX TẠI VIỆT NAM : VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC THẾ KỶ XIX TẠI
VIỆT-NAM
A) Nhà Nguyễn thống nhất sơn hà vào đầu thế kỷ XIX và
cục diện Âu Châu lúc bấy giờ
B) Xã hội và chính sách nội trị cùng ngoại giao của nhà
Nguyễn
1. Xã hội và nội trị
2. Về ngoại giao
C) Học qui và thi cử dưới đời nhà Nguyễn
III. PHÂN ĐOẠN LỊCH SỬ VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
A) Văn chương tiền bán thế kỷ mười chín (XIX)
B) Văn chương hậu-bán thế kỷ XIX
IV. TÍNH CHẤT ĐẠI CƯƠNG VỀ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC
CỦA NỀN VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
A) Nội dung văn học nhà Nguyễn
1) Khuynh hướng đạo lý
2) Khuynh hướng tình cảm
3) Khuynh hướng thời thế
4) Khuynh hướng trào phúng
B) Hình thức văn học nhà Nguyễn
1) Văn thể
2) Văn Từ
V. KẾT LUẬN
CHƯƠNG THỨ II : ĐẠI CƯƠNG VĂN HỌC THẾ-KỶ XX KỂ
TỪ 1900-1945 (GIAI ĐOẠN TIỀN-BÁN THẾ-KỶ)
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC VÀO KHOẢNG
TIỀN BÁN THẾ KỶ XX TẠI NƯỚC TA (1900-1945)
A) Sơ lược lịch sử trong và ngoài nước
1) Những sự kiện chính trị quốc tế quan trọng sau cuộc
đại chiến thứ I
2) Tình hình quốc nội từ sau cuộc đại chiến lần thứ I và
sau 3 phong trào : Cần Vương, Văn Thân, Duy Tân
B) Chính sách cai trị của thực dân Pháp (kinh tế, chính trị
và giáo dục)
1) Chính sách kinh tế
2) Chính sách chính trị
3) Chính sách giáo dục
II. VAI TRÒ CỦA CHỮ QUỐC NGỮ VÀ NHẮC SƠ QUA NGUỒN
GỐC CỦA THỨ CHỮ NÀY
III. CÁC GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN CỦA CHỮ QUỐC NGỮ
A) Thời kỳ phôi thai
B) Thời kỳ phát triển
1) Báo chí
2) Biên khảo và dịch thuật
3) Thi ca
4) Tiểu thuyết
C) Thời kỳ thịnh hành (1913-1934)
1) Báo chí
2) Biên khảo và tạp chí
3) Thi ca
4) Tiểu thuyết
5) Kịch bản
IV. TÓM LƯỢC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM CẤU TẠO TRONG BA
THỜI KỲ TIẾN TRIỂN CỦA CHỮ QUỐC NGỮ
A) Luận thuyết, khảo cứu, phê bình
B) Dịch thuật
C) Du ký và phóng sự
D) Truyện và tiểu thuyết
1) Truyện của thời kỳ phôi thai
2) Truyện và tiểu thuyết thời kỳ phát triển
3) Truyện và tiểu thuyết của thời kỳ thịnh hành
E) Kịch bản
G) Thi phẩm
V. THAY LỜI KẾT LUẬN
A) Giai đoạn thứ nhất (1905-1925)
1) Điều kiện lịch sử
2) Văn chương
B) Giai đoạn thứ nhì (1925-1945)
1) Điều kiện lịch sử
2) Tình trạng văn chương
CHƯƠNG THỨ BA : LỊCH-SỬ BÁO-CHÍ VIỆT-NAM KỂ TỪ
1905-1945 (GIAI ĐOẠN TIỀN-BÁN THẾ-KỶ 20)
I. SỰ XUẤT HIỆN CỦA BÁO CHÍ VIỆT-NAM
II. TÌNH TRẠNG CHUNG CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM
III. CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM TỪ 19051945
1) Giai đoạn thứ nhất (1905-1914)
2) Giai đoạn thứ hai (1914-1930)
3) Giai đoạn thứ ba (1930-1939)
4) Giai đoạn thứ 4 (1939-1945)
IV. SƠ LƯỢC VỀ 3 NHÓM : NAM PHONG TẠP CHÍ, ĐÔNG
DƯƠNG TẠP CHÍ VÀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
A) Đông Dương tạp chí (1913-1917)
1) Sự thành lập
2) Mục đích
3) Ban biên tập và nội dung Đ.D.T.C.
4) Thành tích
B) Nam Phong tạp chí : (1917-1934)
1) Nguyên nhân và sự thành lập tạp chí Nam Phong
2) Ban biên-tập và nội dung tạp chí Nam Phong
3) Mục đích
4) Thành tích
C) Nhóm Tự Lực Văn Đoàn (1932-1945)
1) Tự Lục Văn Đoàn được thành lập trong hoàn cảnh nào
của đất nước ?
2) Ban biên tập và hình thức hoạt động của Tự Lực Văn
Đoàn
3) Chủ trương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn
4) Thành tích và ảnh hưởng của nhóm T.L.V.Đ.
5) Những khuyết điểm của Tự-Lực Văn-Đoàn
V. TÌM HIỂU SƠ LƯỢC BA TẠP CHÍ ĐỒNG THỜI VỚI TỰ LỰC
VĂN ĐOÀN : THANH NGHỊ – TRI TÂN – TAO ĐÀN
A) Thanh nghị tạp chí
1) Sự sáng lập
2) Mục đích
3) Ban biên tập
4) Thành tích
B) Tri Tân tạp chí
1) Sự sáng lập
2) Mục đích
3) Ban biên tập
4) Thành tích
C) Tao đàn tạp chí
1) Sự sáng lập
2) Mục đích
3) Ban biên tập
4) Thành tích
CHƯƠNG PHỤ LỤC : VĂN CHƯƠNG TlỀN-BÁN THẾ KỶ 20
TẠI VIỆT-NAM
I. VẤN ĐỀ THƠ MỚI
A) Thái độ xét lại của các học giả văn nhân thi sĩ đối với
vấn đề thi ca
B) Sự phát triển của thơ mới từ tiệm tiến đến bột phát
C) Bàn về thể cách Thơ Mới
1) Số câu và số khổ trong bài
2) Số chữ trong câu
3) Cách hiệp vần
4) Điệu thơ
II. VẤN ĐỀ TIỂU THUYẾT
A) Từ phôi thai tiến dần đến phát triển
B) Bước vào thế kỷ 20, tiểu thuyết tiến đến thời thịnh
hành
1) Thời kỳ dịch thuật
2) Thời kỳ sáng tác
C) Truyện và tiểu thuyết khác nhau như thế nào ?
1) Truyện là gì ?
2) Truyện và tiểu thuyết khác nhau ở điểm nào và có gặp
nhau không ?
III. VẤN ĐỀ BÚT KÝ VÀ TÙY BÚT
A) Bút ký là gì ?
B) Tùy bút là gì ?
C) Nguyễn Tuân và tùy bút
IV. VẤN ĐỀ PHÓNG SỰ
A) Phóng sự là gì ?
B) Nội dung và hình thức của văn phóng sự
1) Nội dung
2) Hình thức
C) Kỹ thuật xây dựng các thể văn phóng sự
1) Tính cách báo chí
2) Tính cách văn chương
V. VÀI DÒNG VỀ CÁC TƯ TRÀO VĂN CHƯƠNG THẾ GIỚI
TRONG KHOẢNG TIỀN BÁN THẾ KỶ 20
A) Tính chất đại cương về các tư trào văn học thế giới
B) Điểm qua các tư trào văn học trên thế giới.
1) Khuynh hướng cổ điển
2) Khuynh hướng lãng mạn Pháp, Đức và Anh
3) Khuynh hướng tả thực
4) Khuynh hướng tượng trưng và những giai đoạn suy
đồi của nó
KẾT LUẬN
VŨ-HÂN
GIÁO-SƯ VIỆT-VĂN
BIÊN KHẢO
VĂN-HỌC VIỆT-NAM
Thế-kỷ XIX
Tiền-bán thế-kỷ XX
(1800-1945)
Nhà sách KHAI-TRÍ
62, Đại-lộ Lê-Lợi – SAIGON
Kính dâng Hương hồn phụ thân,
Người đã mở lòng tôi bằng dăm câu lục bát của Nguyễn-Du.
LỜI NHẮN GỞI
Quyển « Văn-học Việt-Nam thế-kỷ XIX, tiền-bán thế-kỷ
XX » đây, lẽ dĩ nhiên không phải là một sáng-tác-phẩm mà
nó chỉ là một tập sách biên khảo nho nhỏ để giúp cho các
bạn học sinh nam-nữ xa gần có một ý-niệm tổng-quát về
một giai đoạn lịch sử văn-học nước nhà : Giai đoạn từ thế-kỷ
19 đến tiền-bán thế kỷ 20 (1802-1945), nghĩa là từ thời cực
thịnh của văn Nôm đến khoảng vươn cao của văn chương
Quốc-ngữ.
Bởi vậy, sau khi biên khảo tập sách nhỏ này, Vũ-Hân tôi
chỉ có 2 điều ước mong rất cụ-thể :
Điều ước mong thứ nhất là cố-gắng làm sao cho tập sách
nhỏ này được ra mắt bạn đọc bốn phương nhất là để nó được
đến với các bạn học sinh nam nữ hiện tại ở bậc Trung-Học
đệ-nhị-cấp, đang hằng ngày cắp sách đến trường hoặc đến
với các bạn vì thiếu điều kiện đến trường mà phải ở nhà « tựhọc », hầu giúp cho họ có thêm chút ít tài liệu về văn chương
đất nước trong khi tra khảo học tập làm bài hoặc soạn bài.
Điều ước mong thứ hai là làm sao cho tập sách nhỏ này
được các bạn Giáo-sư đồng-nghiệp khắp nơi chú ý đến để
nếu có thể, được các bạn góp phần xây dựng thêm cho,
nghĩa là Vũ-Hân tôi rất chân thành mong được các bạn góp
thêm ý kiến hoặc chỉ giáo cho những điểm sai lệch và thiếu
sót mà soạn giả không thể nào tránh khỏi trong khi biên
soạn. Và đồng thời cũng rất mong quý bạn đồng nghiệp giới
thiệu tập tài liệu nhỏ này với những học trò của quý bạn,
khuyên họ nên xem tập sách này như là một phần nào về tài
liệu văn chương Việt-Ngữ để họ có thể dùng đó mà soạn
những bài giải đáp, những câu hỏi về giảng-văn cũng như về
luận văn mà quý bạn sẽ ra cho họ.
Tóm lại, nếu 2 điều ước mong trên được thực-hiện hoàn
toàn thì kẻ « lược khảo » tập « Văn học Việt Nam thế kỷ XIX,
tiền-bán thế kỷ XX » nầy lẽ tất nhiên sẽ vô cùng vui sướng.
Tuy nhiên, trước khi kết thúc mấy dòng nhắn gởi trên đây,
Vũ-Hân tôi xin nguyện mãi mãi ghi ơn các bậc thầy đã dầy
công rèn luyện tôi về môn Việt-ngữ cách đây trên 20 năm đã
gây cho tôi một ý thức sâu đậm về nền văn chương đất nước.
Bên cạnh đó tôi cũng không bao giờ dám quên ơn các bậc
học-giả, các vị giáo-sư đàn anh, vì nhờ những tài liệu về văn
học rất uyên-thâm của quý-vị mà tôi đã hằng ngày nghiêncứu, tìm tòi học tập thêm để trong một thời gian « góp gió
thành bão » mới có thể biên soạn ra được tập sách cỏn con
này…
Đến đây tôi không còn dám dài dòng nhắn gởi nữa, chỉ
kính mong các thầy của tôi trước kia hiện còn sống hoặc đã
quá vãng, mong các bậc học giả, các bậc giáo sư đàn anh
thông cảm cho… và cuối cùng cũng rất mong các bạn họcsinh xa gần nên tìm đến với tôi, tìm để thông cảm tôi qua
mấy chương sách nhỏ sắp bắt đầu lược trình kế tiếp theo
đây…
Đà-nẵng, đầu hè năm Đinh-Mùi (1967)
Người soạn sách
VŨ-HÂN
CHƯƠNG MỞ ĐẦU : MỘT ÍT KHÁI-NIỆM
VỀ 2 VẤN ĐỀ VĂN-HỌC VÀ VĂN-HỌC-SỬ
I. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ DANH TỪ VĂN-HỌC
A) Văn học là gì ?
Đối với nền cổ học Trung Hoa, nhất là với học thuyết
Khổng Mạnh, « văn » là vẻ đẹp (đầy màu sắc), điều hay
(thâm thúy, cao xa). Bởi vậy « Văn học » là một trong tứ
khoa mà các môn đệ Khổng Tử cần phải trau dồi mãi mãi :
văn, hạnh, trung, tín. Cho nên ta có thể nói : « Hạnh, Trung,
Tín » là thuộc phần tư cách đạo đức, còn « văn » thì thuộc về
mặt trí tài. Do lẽ đó, kẻ nào thấu triệt quán xuyến về « văn »
thì được thế nhân gọi là văn nhân thức giả.
B) Quan niệm về văn học của người Trung Hoa
trước kia
Qua thời Dân Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) vấn đề văn
học lại được quan niệm bằng hai cách khác nhau.
1) Phái học giả vào thời kỳ đầu quan niệm rằng : Văn
học tức là dùng văn tự ghi chép lại mọi tư tưởng, mọi lý luận,
phép tắc, v.v… Bởi vậy, theo họ, văn tự học, bách gia chư tử
triết học, sử học, lý học, v.v… đều được gọi là văn học.
Quan niệm văn học của phái học giả này cũng có vẻ
giống với quan niệm của các học giả về thời phong kiến là : «
Trước ư trúc, bạch vị chi văn ; luận kỳ pháp thức vị chi văn
học » (viết trên tre, lụa thì gọi là văn ; bàn đến phép tắc của
nó thì gọi là văn học).
2) Phái học giả về sau nầy vì chịu ảnh hưởng các tư trào
Âu Mỹ nên lại quan niệm vấn đề văn học một cách có giới
hạn hơn. Họ cho rằng chỉ những tác phẩm nào bao hàm ý vị
nghệ thuật, nghĩa là chỉ chuyên tả tình cảm, tưởng tượng,
phô bày cảm giác, cảm xúc mới được gọi là văn học. Như thế
tự nhiên các loại sách về kinh học, triết học, lý học và ngay
cả những danh tác cổ văn mang nặng các tư tưởng về vũ trụ,
nhân sinh, đạo đức cũng bị xem như là không phải văn học.
Tựu trung, theo phái sau nầy, chỉ có thi ca, từ phú, tân văn,
tiểu thuyết, kịch tuồng, bút ký, v.v… mới được mệnh danh là
văn học mà thôi.
C) Quan niệm về văn học của người Việt-Nam ta
ngày nay
Ngày nay ở nước ta, ảnh hưởng từ trào Đông, Tây, kim cổ
này ngày càng sâu rộng, quan niệm về 2 chữ văn học lẽ tất
nhiên phải được mới mẻ và xác đáng hơn. Do đó môn quốc
văn phải được đề cao và sẽ chiếm một địa vị quan trọng trên
mọi ngành học thuật.
Với một quan niệm mới mẻ và xác đáng như thế những
yếu tố mà trước kia các học giả ta đã đặt nặng cho văn học
như : học qui, khoa cử, từ chương, cú pháp, Hán văn, tam
giáo (Nho, Thích, Lão), v.v… đều không phải là phần cốt yếu
của văn học nữa.
Mà phần cốt yếu của văn học, cái đối tượng chính của văn
học Việt Nam là các sáng tác phẩm bằng quốc âm, tức là
những áng danh tác bằng văn nôm trước kia hay bằng chữ
quốc ngữ về sau nầy vậy. Ngoài ra, bao nhiêu kho tàng Hán
văn quí báu của tiền nhân để lại đều không thể liệt nhập vào
lĩnh vực của văn học Việt Nam được. Vì nền văn học một
quốc gia, một dân tộc không thể xây dựng bằng văn tự nước
ngoài. Cho nên cái kho tàng « Văn học Hán Việt » của ta vốn
sẵn còn lại đó chỉ đáng xem như là những tài liệu quí giá để
giúp ta soi sáng, hoặc đi sâu vào sự tìm hiểu các tác giả, các
tác phẩm bằng văn nôm ngày trước hiện còn lưu lại mà thôi.
Tóm lại, hai chữ văn học của ta ngày nay cần phải nhận
định với 3 ý nghĩa dưới đây :
1. Văn học của một quốc gia là toàn thể những công trình
sáng tác về văn vần cũng như văn xuôi viết bằng tiếng mẹ đẻ
của quốc gia ấy.
2. Nó không chỉ những là thi ca, tiểu thuyết, kịch tuồng,
ký sự mà còn phải bao quát tất cả công trình về triết lý, sử
ký, khoa học xây dựng có nghệ thuật, có kiến trúc mỹ lệ gây
được nhiều hứng thú văn chương tuyệt vời.
3. Văn học còn có nghĩa là một khoa học, một khoa
nghiên cứu về các tác phẩm văn chương mỹ lệ tuyệt vời nói
trên.
II. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ KHOA VĂN HỌC SỬ
A) Văn học sử là gì ? Vài dòng nhận xét về văn học
sử nước Tàu và nước Pháp
Nói tóm một câu, văn học sử là lịch sử tổng quát về các
thời đại văn học, tiểu sử các tác giả và sự nhận định giá trị về
nội dung cùng hình thức các tác phẩm tiêu biểu nhất của họ.
Bởi vậy nước nào có một nền văn học tương đối quy mô, tất
nhiên nước ấy phải có văn học sử.
Pháp có văn sử Pháp, Trung Hoa có Văn Học Trung Hoa,
Việt Nam cũng có văn học sử Việt Nam và khoa chuyên
nghiên cứu các nền văn học sử ấy gọi là khoa văn học sử.
Ở Pháp, khoa văn học sử phát minh từ hơn một thế kỷ
nay và dần dần tiến theo sự tiến bộ của sử học. Xưa kia,
khoa văn học sử Pháp chỉ là những áng văn phê bình mang
nặng tâm khí và thiên kiến của phê bình gia hơn là nói rõ về
tác giả và tác phẩm. Nhưng vào đầu thế kỷ XIX các học giả
mới chịu đổi mới lối phê bình cũ mà làm việc theo phương
pháp khoa học, theo gương các sử gia chuyên tâm tìm tòi sự
thực về giá trị tác phẩm, sự thực về cuộc đời tác giả, về hoàn
cảnh xã hội mà họ đã hoặc đang sống, v.v… gạt bỏ chủ quan
mỗi khi đem các văn kiện ra suy cứu và thẩm định. Do đó,
môn phê bình văn học chính thức thành khoa văn học sử.
Sainte-Beuve là nhà văn học sử đầu tiên đã có công xây đắp
nền móng cho tòa lâu đài văn học sử Pháp.
Ở Trung Hoa, nền văn học đã thành qui mô trên 3000
năm, nhưng mãi cách đây trên nửa thế kỷ Lâm truyền Giáp,
một giáo sư Đại học, mới viết tập « Trung quốc văn học sử ».
Đó là quyển lịch sử văn học Trung Hoa đầu tiên chính thức
xuất bản vào năm Tuyên Thống thứ hai. Từ đó, quan niệm
người Tàu về Văn học sử càng ngày càng tiến triển theo tư
trào Âu Mỹ… Cho nên qua thời kỳ dân quốc, khoa văn học sử
càng nẩy nở phồn thịnh, kể đến nay đã có hơn 50 bộ văn học
sử ra đời.
B) Nhận xét sơ lược về Văn học sử Việt Nam và
những công tác của cố giáo sư Dương Quảng Hàm cùng
các học giả đương thời
Trong công việc xây dựng nền văn học quốc gia, riêng ở
Việt Nam ta môn Văn học Sử dần dần thành hình bắt đầu từ
khoảng hạ bán thế kỷ 19 cho đến ngày nay.
Từ hạ bán thế kỷ 19 nước ta bị đặt dưới quyền Pháp đô
hộ, tức thì Pháp văn thay thế cho Hán văn. Nhờ đó, chữ quốc
ngữ tự nhiên chiếm địa vị khả quan dần trong chương trình
học mới.
Thêm vào đó, qua sự trung gian của sách vở Pháp các tư
trào Âu Tây rầm rộ du nhập vào đất nước ta… Lại còn những
tân thư Trung quốc luôn luôn tìm cơ hội truyền sang, phong
trào Nhật-Bản Duy tân từ bể Đông dội đến, rồi tin Nhật chiến
thắng quân đội Nga Hoàng (1905) vang dậy khắp nơi… cũng
thúc đẩy sĩ phu trí thức Việt Nam hăng hái biên khảo, sáng
tác bằng tiếng Việt, gây cơ sở cụ thể cho nền quốc gia văn
học sau nầy : tiếp đến, ở địa hạt sư phạm, môn Văn Học Sử
Việt Nam được bắt đầu xây dựng nhờ công lao và thiện chí
của 2 vị giáo sư tiên phong : Giáo sư G. Cordier và giáo sư
Dương Quảng Hàm. Chính 2 vị nầy đã soạn thảo trước hết
những khóa trình về Việt Văn và giới thiệu các tác phẩm Hán
Việt cho các bạn trung học Pháp, Việt.
Tuy nhiên, công trình của Dương Quảng Hàm mới thật là
đáng kể. Ông Hàm là một vị giáo sư lão thành, tinh thông cả
Tây lẫn Hán học, vừa chịu ảnh hưởng cổ truyền về văn học
Đông Phương, vừa tiếp nhận các trào lưu tư tưởng cùng học
thuật mới Tây Phương nhất là của Pháp… Do đó, làm sách
Việt-văn, chép văn học sử Việt Nam, ông đã noi theo gương
của các nhà văn học sử Pháp hồi đầu thế kỷ 20, nghĩa là ông
thiên về sử nhiều hơn là thiên về văn chương bằng cách chỉ
cố tâm sưu tầm văn liệu rồi dồn lại để phân trần, biện hộ,
v.v… Trong khi biên soạn, ông lại còn quan niệm rằng văn
học Việt-Nam phải gồm cả những tác phẩm vừa bằng Hán
văn, vừa bằng văn Nôm hoặc bằng chữ Quốc ngữ do người
Việt sáng tác. Thật giống với ngày nay, có một vài học giả
cũng cho rằng các tác phẩm bằng Pháp văn của Văn Nhân
nước Việt rất đáng được nằm trong kho tàng Văn học ViệtNam.
Đồng thời với Dương Quảng Hàm, các học giả trong 2
nhóm « Nam Phong tạp chí » và « Đông Dương tạp chí »
cũng rất lưu tâm đến vấn đề tìm tòi biên khảo các văn liệu
nước nhà. Nhưng các tài liệu văn học được các vị ấy cho đăng
tải trên 2 tờ tạp chí đó vẫn còn trong phạm vi khảo luận eo
hẹp, chưa lấy gì làm chắc chắn lắm.
Bên cạnh các vị trong 2 nhóm tạp chí kể trên lại còn một
số học giả gồm có các ông như : Lê Dư, Bùi Kỷ, Trần văn
Giáp, Nguyễn văn Tố, Hoàng xuân Hãn, với một quan niệm
rộng rãi hơn, đã dày công tìm lục những áng cổ văn để đưa
ra đối chiếu, hiệu đính lại đích xác cho khỏi cái nạn « Tam
sao, thất-bổn ». Thành tích cải tiến văn học này của các vị
học giả vừa kể đều được cho in thành sách hoặc được thấy
trong các mục thi văn cổ của những tập san, tạp chí như : Trí
Tri, Khai Trí, Tiến Đức, Tri Tân, Thanh Nghị, v.v… Nhất là
công trình hiệu đính biên khảo các văn liệu của 3 ông Giáp,
Tố, Hãn, khả dĩ đáng tin cậy vì các vị nầy rất sẵn điều kiện
quý báu để làm việc, sẵn kiến thức uyên thâm, kiên tâm lớn
và phương pháp rất khách quan rất khoa học.
C) Quan niệm của chúng ta đối với vấn đề Văn học
sử
Rồi từ sau những chính biến 1945 cho đến nay, quốc gia
Việt Nam bắt đầu thoát ly ách ngoại thuộc, lẽ tất nhiên môn
Việt Văn và khoa Văn học sử cần phải được quan niệm lại
một cách rõ ràng và đúng đắn hơn để tỏ cho thế giới biết
rằng dân tộc ta đã có một trình độ văn học rất có giá trị quốc
tế. Bởi vậy, ngày nay chúng ta không nên ngộ nhận rằng văn
học sử là một khoa hoàn toàn ghi chép những văn kiện dĩ
vãng như sự ghi chép lịch sử, có bao nhiêu chép lại bấy
nhiêu, không cần phân biệt cái nào là ngoại lai, cái nào là
thuần túy của dân tộc. Trái lại chúng ta nên dứt khoát quan
niệm rằng Văn học sử Việt Nam không thể nhận các di văn
bằng chữ Hán trước kia hoặc bằng chữ Pháp sau nầy do
người Việt sáng tác để làm sử liệu văn học. Sử liệu chính của
nền Văn học Việt Nam phải là toàn thể những di văn, những
sáng tác bằng tiếng Việt do người Việt ghi theo lối truyền
khẩu, chép lại bằng văn nôm trước kia hoặc bằng chữ Quốc
ngữ hiện thời.
Tóm lại, Văn học sử là một cái nhìn bao quát vì văn học là
cuộc sống, là tâm hồn có mật thiết liên quan đến thiên nhiên,
thế hệ và xã hội của từng mỗi dân tộc trên thế giới từ xưa tới
nay. Cho nên, khảo cứu văn học, chép văn học sử của một
dân tộc tức là tìm hiểu sức sống của dân tộc ấy, theo dõi thời
kỳ nó phát sinh, thời gian nó trưởng thành và biến hóa trên
trường lịch sử về cả hai phương diện hình thức và nội dung.
Xây dựng khoa Văn học sử Việt Nam cũng không ngoài
các quan niệm và nguyên lý cùng nguyên tắc kể trên.
CHƯƠNG THỨ I : ĐẠI CƯƠNG VĂN-HỌC
VỀ THẾ-KỶ XIX Ở VIỆT-NAM
I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ TINH THẦN CỦA NỀN VĂN
HỌC THẾ KỶ XIX TẠI VIỆT NAM : VĂN HỌC NHÀ
NGUYỄN
Có thể nói thế kỷ thứ XIX ở Việt Nam là một thế kỷ rất
quan trọng về lịch sử chính trị cũng như về lịch sử văn
chương nhất là văn chương chữ nôm trong giai đoạn cực
thịnh của nó mà chúng ta sắp thảo luận riêng dưới đây.
Nhìn chung, do 3 phương diện chính trị, xã hội, kinh tế
của thế kỷ thứ XIX tại nước ta biến chuyển quá mạnh nên
nền văn học sản phẩm của 3 điểm vừa nói đó chiếm một địa
vị vô cùng quan trọng để phản ảnh một cách trung thực hiện
trạng của xã hội Việt Nam trong thời đại bấy giờ.
Nhìn sâu hơn nữa về phương diện khác nền văn học của
thế kỷ XIX ở Việt Nam sở dĩ được chói lọi là nhờ ngọn đuốc
chữ nôm rực rỡ chói sáng. Văn chương chữ nôm của thế kỷ
XIX đã bước vào thời kỳ thứ 3 của nó, thời toàn thịnh. Nó
toàn thịnh trong phong phú về nội dung lẫn hình thức. Đã thế
mà ngọn đuốc văn học « nôm na » này lại được một số đông
thiên tài nêu cao ngày càng chói lọi trong toàn một thế kỷ để
xây dựng vô số sáng tác mà những kiệt phẩm đâu phải là
hiếm hoi gì… Ta có thể tự hào rằng văn chương thế kỷ thứ
XIX nhất là văn nôm ở nước ta đã gây được một mối thống
nhất về phẩm cũng như về lượng mà từ Nguyễn Du đến Trần
Tế Xương trên dưới đến 30 vị lừng danh đã góp sức vào. Và
mặc dù thời đại làm cho họ có những tình cảm và khuynh
hướng khác nhau, năng khiếu gây cho họ có những hình thức
văn loại khác nhau, nhưng họ, từ Nguyễn Du đến Trần Tế
Xương là cả một quần tinh xán lạn trên nền trời văn học nước
nhà dưới thế kỷ XIX. Có thể nói với « Đoạn Trường Tân
Thanh », với những nụ cười châm biếm, Nguyễn Du và Trần
Tế Xương đã mở và đóng cái kỷ nguyên văn học nầy. Mà cái
kỷ nguyên văn học nầy, soạn giả của bất cứ bộ văn học sử
nào cũng đều trịnh trọng mệnh danh là « nền văn chương
triều Nguyễn ».
II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC THẾ KỶ XIX
TẠI VIỆT-NAM
A) Nhà Nguyễn thống nhất sơn hà vào đầu thế kỷ
XIX và cục diện Âu Châu lúc bấy giờ
Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi khai sáng triều Nguyễn
và đem lại cho bề ngoài của quốc gia một vẻ thống nhất và
thái bình, sau 200 năm nội chiến. Bộ mặt thống nhất và thái
bình nầy hiện ra trên đất nước có thể kể từ đời Gia Long cho
đến giữa triều Nguyễn vua Tự-Đức là thời sơ diệp nhà
Nguyễn, vào khoảng tiền bán thế kỷ XIX. Trong khi ấy, khoa
học Tây phương tiến bộ mạnh, làm thay đổi cả cục diện hoàn
cầu. Nhờ sự tiến bộ của khoa học, nhất là khoa học cơ khí,
phương tiện giao thông được canh tân vượt mức. Với những
tàu bè chạy bằng động cơ, nhanh chóng và tiện lợi, người các
nước Tây phương thi nhau đi khắp thế giới tìm kiếm thị
trường và chiếm lĩnh vực thuộc địa để bành trướng thế lực.
Trước tình thế mới ấy, vua quan nhà Nguyễn vẫn khư khư
giữ chính sách nội trị ngoại giao cũ và phép học phép thi theo
lề lối xưa.
Đó là nguyên do tất cả các việc quan trọng đã xảy ra
trong lịch sử Việt-Nam về thời đại cận kim mà kết quả là cuộc
đô hộ của người Pháp.
Để hiểu rõ tình trạng văn học nước ta trong hoàn cảnh
lịch sử ấy, ta cần xét qua về chính sách nội trị cùng ngoại
giao và học quy dưới triều Nguyễn, trong các đời vua MinhMệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (18481883) như sau :
B) Xã hội và chính sách nội trị cùng ngoại giao của
nhà Nguyễn
1. Xã hội và nội trị
Triều đình nhà Nguyễn theo chính sách thủ cựu. Toàn dân
chia làm 4 hạng : sĩ, nông, công, thương. Đứng đầu là sĩ tức
là phái nhà nho, theo giáo lý Khổng Mạnh, trọng luân thường
đạo nghĩa, giữ trật-tự tôn ti. Những người giúp vua trị nước
được tuyển lựa trong hạng này. Nhưng phần nhiều kẻ sĩ hồi
đó thường câu nệ, cố chấp, nặng đầu óc bảo thủ, thiếu sáng
kiến, phát minh chuộng văn chương, khinh thực nghiệp nên
kiến thức hẹp hòi, không nghĩ xa trông rộng. Thứ là nông tức
đa số thường dân cổ cày vai bừa, dẻo dai chịu đựng, nhưng
chỉ biết quyến luyến quê hương với lề lối làm việc cổ lỗ thô sơ
cùng những tập tục phần nhiều lạc hậu. Còn 2 hạng công và
thương có thể gọi là không đáng kể, vì công nghệ, chỉ là
những thủ công nghệ thô sơ truyền lại từ bao đời mà không
hề được cải tiến ; còn thương mại thì dĩ nhiên không được
phát đại trong một xã hội « dĩ nông vi bản » như xã hội ta
thời bấy giờ.
Trước tình thế mới, cách tổ chức xã hội ta thời bấy giờ
quá xưa và quá đơn giản ấy dĩ nhiên là không hợp thời. Thế
mà vua quan, sĩ thứ nước ta thời ấy vẫn u mê không hay biết
gì. Vua và triều đình vẫn cứ giữ lề lối cũ, việc nội trị rập theo
đúng khuôn mẫu Trung Hoa không hề nghĩ đến sự canh tân,
nên nước yếu dân nghèo, nghiễm nhiên tự liệt vào hàng quốc
gia chậm tiến.
2. Về ngoại giao
Vì chủ trương « Bế môn tỏa cảng » đóng cửa không giao
thiệp với người nước ngoài. Vì có chủ trương hẹp hòi ấy, nên
vua và triều đình hồi đó nhất quyết không cho người ngoại
quốc vào thông thương (nhiều lần các nước Anh, Pháp sai sứ
sang xin giao hảo và ký thương ước đều bị cự tuyệt), một
mặt cấm các giáo sĩ người Âu truyền đạo thiên chúa, cho là
họ đem truyền những tà thuyết trái với chế độ phong tục
nước ta.
C) Học qui và thi cử dưới đời nhà Nguyễn
Chính sách nội trị ngoại giao đã có nhiều khuyết điểm,
việc học hành thi cử cũng không hơn gì ! Sĩ phu chỉ nhai đi
nhai lại mấy bộ tứ thư, ngũ kinh, bắc sử… mài miệt lối văn cử
nghiệp, trích cú tầm chương, quá chuộng hư văn mà xao lãng
cái học thực dụng, truyện cổ nước Tàu thì đọc vanh vách mà
việc mới năm châu thì mù mịt không hay.
Cách tổ chức việc học việc thi dưới triều nhà Nguyễn vẫn
là những phép tắc cũ, phỏng theo quy củ đời Hậu Lê.
Về việc học : Toàn quốc chỉ có một trường lớn là Quốc
Tử Giám ở kinh đô. Ở các tỉnh, huyện thì có các chức đốc
học, huấn đạo, giáo thụ. Còn bực tiểu học quan trọng nhất
thì chính quyền lại không lưu tâm đến và phó mặc tư nhân
(các ông đồ) đảm nhiệm.
Về việc thi : cũng vẫn có hai khoa chính là thi hương và
thi hội (3 năm 1 lần) và chương trình thì cũng vẫn có thơ
phú, kinh nghĩa, văn sách, tứ lục.
Tuy vậy, nếu kể về phương diện sáng tác trong lĩnh vực
văn Nôm thì nền văn học nhà Nguyễn có những đặc điểm rất
đáng kể trong hai giai đoạn tiền và hậu bán thế kỷ của nền
văn học đó mà chúng ta cần đem phân đoạn và tìm hiểu dưới
đây :
III. PHÂN ĐOẠN LỊCH SỬ VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
Ta cũng có thể chia lịch sử văn chương Việt Nam của thế
kỷ XIX ra làm 3 thời kỳ như giáo sư Dương Quảng Hàm đã
phân đoạn trong bộ « Việt Nam văn học sử yếu » của ông :
1) Thời Nguyễn sơ.
2) Thời kỳ tiền Pháp xâm.
3) Thời kỳ hậu Pháp xâm.
Nhưng phân đoạn như thế e rằng thiếu sự cân đối giữa 3
thời kỳ vì trong giai đoạn Nguyễn sơ rất ít sự kiện văn
chương đáng ghi chú. Vậy theo ý kiến hữu lý của một số học
giả, ta thử chia văn chương thế kỷ thứ XIX ở Việt Nam ra làm
2 thời kỳ song song với hai thời bình, loạn của lịch sử chính
trị và xã hội ở nước ta về thế kỷ đó.
Chia như thế là cốt dựa vào hai tính chất bình, loạn của
lịch sử ấy để dễ nhận định tư tưởng và khuynh hướng của các
văn thi gia. Chứ thật ra ở Việt Nam, nhất là ở Á Đông, văn
chương khó phân được thời đoạn rành mạch.
A) Văn chương tiền bán thế kỷ mười chín (XIX)
Như đã nói ở phần bối cảnh lịch sử chung về văn chương
của thế kỷ XIX, giai đoạn tiền bán thế kỷ này là 1 thời kỳ lịch
sử tương đối có được cảnh thái bình trên toàn cõi đất nước.
Cảnh tượng khả dĩ thái bình nầy có thể kể từ năm vua Gia
Long lên ngôi đến nửa triều Tự Đức tức là từ năm 1802 đến
độ 50 năm kế tiếp.
Tuy nhiên, người ta cũng không quên trong thời kỳ thái
bình đó. Những cuộc bạo động và biến loạn liên tiếp xảy ra
dưới thời Minh Mạng và Tự Đức. Vua Gia Long lên ngôi ; sơn
hà được thống nhất, triều đình được tổ chức kỷ cương, đối với
các sĩ phu cựu thần của Lê triều, nhà vua có một thái độ
khôn khéo. Rồi Minh Mệnh, Thiệu Trị, và Tự Đức lần lượt kế
vị, nội chính liên tục củng cố, ngoại giao vẫn giữ một chính
sách cổ truyền.
Rồi biến loạn và bạo động liên tiếp xảy ra trong nước làm
cho quan quân mà nhất là cụ Nguyễn Công Trứ thêm hào
hứng trên đường đi lập công và cùng làm cho các sĩ phu ngày
đêm hô hào dân chúng phải giữ đạo tôi con, hiếu trung khắc
cốt. Tất cả những sự kiện lịch sử ấy đã gây cho thời kỳ tiền
bán thế kỷ XIX một nền văn chương cổ điển cực thịnh. Nhưng
trong cái khung văn chương cổ điển quy mô như triều cương
và nội chính của thời sơ Nguyễn, tình cảm và bản ngã của
văn nhân thi sĩ vẫn được bộc lộ rõ ràng qua từng giai đoạn
của thời kỳ.
Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo phận mình ra sao ?
Hay là : Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Đền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Hoặc : Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, v.v…
Và : Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Cuối cùng những câu như :
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Hay là : Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa
Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu
Thờ cha sớm viếng khuya hầu.
Hoặc : Nhà dột vài ba gian, một thầy, một cô, một chó
cái,
Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười
ươi.
Tất cả những câu thơ dẫn chứng trên phải chăng đã nói
lên được phần nào tình cảm và bản ngã của các tác giả cổ
điển trong giai đoạn tiền bán thế kỷ XIX, giai đoạn nhà
Nguyễn bề ngoài tương đối còn tỏ vẻ thanh bình và có nhiều
uy lực ?
B) Văn chương hậu-bán thế kỷ XIX
Hết tương đối yên tĩnh đến triệt để rối ren, hậu bán thế
kỷ XIX là một thời mà nước ta lâm vào thế tao loạn. Bên
trong, suốt nửa đời Tự Đức kể về sau, giặc giã nổi lên. Bên
ngoài chính sách « đóng ải, tỏa bến » của triều đình gây ra
cuộc tranh chấp với Tây phương. Rồi từ hòa ước nầy đến hòa
ước nọ, nước ta mất trọn chủ quyền vào tay đế quốc Pháp. Sĩ
phu cùng với nhân dân tìm mọi cách chống lại kẻ xâm lược.
Đây, đó lòe lên những ngọn lửa Cần Vương. Rồi phong trào
xuất dương sôi nổi vì người ta tin rằng biết đâu vấn đề du
học ngoại quốc sẽ có nhiều hiệu lực như vấn đề cầu cứu
ngoại viện để thu phục lại sơn hà. Thời thế đó đẩy Nho học
đến chỗ suy tàn. Văn hóa Âu Tây được dịp xâm nhập vào bờ
cõi nước ta cuồn cuộn như làn sóng mạnh.
Nước ta tiếp nhận một cách vừa lạ lùng, ngơ ngác vừa
phục thiện và thích thú cả một kỷ nguyên cơ khí dựng trên
nền kinh tế tư bản. Thế là khuôn thước tư tưởng nghìn xưa
lại bị sụp đổ, trật tự xã hội cũ của nước ta lúc bấy giờ bị các
tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, cá nhân chủ nghĩa, duy lý
chủ nghĩa, từ bên ngoài ùa vào xáo trộn, trật tự xã hội,
khuôn vàng thước ngọc của Khổng Mạnh bị sứt mẻ, lẽ tất
nhiên nền văn chương từng khuôn rập với tư tưởng cũ và xã
hội cũ phải đổi lối thay bình. Thế nghĩa là nền văn chương cổ
điển của thời tiền bán thế kỷ 19 qua thời hậu bán thế kỷ 19
tao loạn nầy tự nhiên phải biến chứng rồi tan rã.
Nếu không, tại sao một Tự Đức đang đạo đức và nghiêm
trang bỗng trở nên ủy mị và có vẻ lãng mạn trước cái chết
của Thị Bằng, một người Ái phi của ngài :
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi…
Rồi từ Tự Đức mê si đến Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê,
Dương Lâm đa tình, bay bướm và ưa thích hòa mình trong
khoái lạc : « Cho hay danh sĩ với giai nhân, cùng một kiếp
hoa nghiêm nặng nợ… ngán nỗi non xanh, đất đỏ, để riêng ai
lưu lạc, đau lòng ». (Chu-Mạnh-Trinh – Tựa Truyện Kiều).
Hoặc :
Thôi đừng mang lão lệ với đàn tranh
Kìa kỹ nữ cũng thương sinh đâu đấy nhỉ ?
Mảnh ti trúc ai là tri kỷ
Ngón tỳ bà năn nỉ với ai đây ?
(Dương Lâm)
Tuy nhiên cũng có một số văn nhân thi sĩ rất đa tình,
nhưng không đa tình trong trăng, hoa, đàn...
 





