BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên thông tin thư viện

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    2.jpg 1.jpg 2.jpg 1.jpg 15.jpg 9.jpg 7.jpg 3.jpg 10.jpg 16.jpg 21.jpg 22.jpg 23.jpg 24.jpg 20.jpg 19.jpg 18.jpg 17.jpg 16.jpg 15.jpg

    💕💕NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 43 NĂM NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/1982 - 20/11/2025💕💕

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện trường THCS Quyết Thắng

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Van Hoc Viet Nam (1800-1945) - Vu Han

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 21h:06' 26-04-2024
    Dung lượng: 965.6 KB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Tên sách : VĂN-HỌC VIỆT-NAM (1800-1945)
    Tác giả : VŨ-HÂN
    Nhà xuất bản : Nhà sách KHAI-TRÍ
    Năm xuất bản : 1973
    -----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
    Đánh máy : kehetthoi
    Kiểm tra chính tả : Vũ Minh Anh, Nguyễn Minh Khôi,
    Võ Ngọc Thùy Trinh, Kim Thoa, Nguyễn Phát An,
    Trương Thu Trang, Nguyễn Mỹ Quỳnh Dao
    Biên tập ebook : Thư Võ
    Ngày hoàn thành : 11/09/2018

    Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận «
    SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG
    BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
    Cảm ơn tác giả VŨ-HÂN và Nhà sách KHAI-TRÍ đã chia
    sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.

    MỤC LỤC
    LỜI NHẮN GỞI
    CHƯƠNG MỞ ĐẦU : MỘT ÍT KHÁI-NIỆM VỀ 2 VẤN ĐỀ
    VĂN-HỌC VÀ VĂN-HỌC-SỬ
    I. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ DANH TỪ VĂN-HỌC
    A) Văn học là gì ?
    B) Quan niệm về văn học của người Trung Hoa trước kia
    C) Quan niệm về văn học của người Việt-Nam ta ngày nay
    II. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ KHOA VĂN HỌC SỬ
    A) Văn học sử là gì ? Vài dòng nhận xét về văn học sử
    nước Tàu và nước Pháp
    B) Nhận xét sơ lược về Văn học sử Việt Nam và những
    công tác của cố giáo sư Dương Quảng Hàm cùng các học
    giả đương thời
    C) Quan niệm của chúng ta đối với vấn đề Văn học sử
    CHƯƠNG THỨ I : ĐẠI CƯƠNG VĂN-HỌC VỀ THẾ-KỶ XIX
    Ở VIỆT-NAM
    I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ TINH THẦN CỦA NỀN VĂN
    HỌC THẾ KỶ XIX TẠI VIỆT NAM : VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
    II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC THẾ KỶ XIX TẠI
    VIỆT-NAM
    A) Nhà Nguyễn thống nhất sơn hà vào đầu thế kỷ XIX và
    cục diện Âu Châu lúc bấy giờ
    B) Xã hội và chính sách nội trị cùng ngoại giao của nhà
    Nguyễn
    1. Xã hội và nội trị
    2. Về ngoại giao
    C) Học qui và thi cử dưới đời nhà Nguyễn

    III. PHÂN ĐOẠN LỊCH SỬ VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
    A) Văn chương tiền bán thế kỷ mười chín (XIX)
    B) Văn chương hậu-bán thế kỷ XIX
    IV. TÍNH CHẤT ĐẠI CƯƠNG VỀ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC
    CỦA NỀN VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
    A) Nội dung văn học nhà Nguyễn
    1) Khuynh hướng đạo lý
    2) Khuynh hướng tình cảm
    3) Khuynh hướng thời thế
    4) Khuynh hướng trào phúng
    B) Hình thức văn học nhà Nguyễn
    1) Văn thể
    2) Văn Từ
    V. KẾT LUẬN
    CHƯƠNG THỨ II : ĐẠI CƯƠNG VĂN HỌC THẾ-KỶ XX KỂ
    TỪ 1900-1945 (GIAI ĐOẠN TIỀN-BÁN THẾ-KỶ)
    I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC VÀO KHOẢNG
    TIỀN BÁN THẾ KỶ XX TẠI NƯỚC TA (1900-1945)
    A) Sơ lược lịch sử trong và ngoài nước
    1) Những sự kiện chính trị quốc tế quan trọng sau cuộc
    đại chiến thứ I
    2) Tình hình quốc nội từ sau cuộc đại chiến lần thứ I và
    sau 3 phong trào : Cần Vương, Văn Thân, Duy Tân
    B) Chính sách cai trị của thực dân Pháp (kinh tế, chính trị
    và giáo dục)
    1) Chính sách kinh tế
    2) Chính sách chính trị
    3) Chính sách giáo dục

    II. VAI TRÒ CỦA CHỮ QUỐC NGỮ VÀ NHẮC SƠ QUA NGUỒN
    GỐC CỦA THỨ CHỮ NÀY
    III. CÁC GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN CỦA CHỮ QUỐC NGỮ
    A) Thời kỳ phôi thai
    B) Thời kỳ phát triển
    1) Báo chí
    2) Biên khảo và dịch thuật
    3) Thi ca
    4) Tiểu thuyết
    C) Thời kỳ thịnh hành (1913-1934)
    1) Báo chí
    2) Biên khảo và tạp chí
    3) Thi ca
    4) Tiểu thuyết
    5) Kịch bản
    IV. TÓM LƯỢC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM CẤU TẠO TRONG BA
    THỜI KỲ TIẾN TRIỂN CỦA CHỮ QUỐC NGỮ
    A) Luận thuyết, khảo cứu, phê bình
    B) Dịch thuật
    C) Du ký và phóng sự
    D) Truyện và tiểu thuyết
    1) Truyện của thời kỳ phôi thai
    2) Truyện và tiểu thuyết thời kỳ phát triển
    3) Truyện và tiểu thuyết của thời kỳ thịnh hành
    E) Kịch bản
    G) Thi phẩm
    V. THAY LỜI KẾT LUẬN

    A) Giai đoạn thứ nhất (1905-1925)
    1) Điều kiện lịch sử
    2) Văn chương
    B) Giai đoạn thứ nhì (1925-1945)
    1) Điều kiện lịch sử
    2) Tình trạng văn chương
    CHƯƠNG THỨ BA : LỊCH-SỬ BÁO-CHÍ VIỆT-NAM KỂ TỪ
    1905-1945 (GIAI ĐOẠN TIỀN-BÁN THẾ-KỶ 20)
    I. SỰ XUẤT HIỆN CỦA BÁO CHÍ VIỆT-NAM
    II. TÌNH TRẠNG CHUNG CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM
    III. CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM TỪ 19051945
    1) Giai đoạn thứ nhất (1905-1914)
    2) Giai đoạn thứ hai (1914-1930)
    3) Giai đoạn thứ ba (1930-1939)
    4) Giai đoạn thứ 4 (1939-1945)
    IV. SƠ LƯỢC VỀ 3 NHÓM : NAM PHONG TẠP CHÍ, ĐÔNG
    DƯƠNG TẠP CHÍ VÀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
    A) Đông Dương tạp chí (1913-1917)
    1) Sự thành lập
    2) Mục đích
    3) Ban biên tập và nội dung Đ.D.T.C.
    4) Thành tích
    B) Nam Phong tạp chí : (1917-1934)
    1) Nguyên nhân và sự thành lập tạp chí Nam Phong
    2) Ban biên-tập và nội dung tạp chí Nam Phong
    3) Mục đích
    4) Thành tích

    C) Nhóm Tự Lực Văn Đoàn (1932-1945)
    1) Tự Lục Văn Đoàn được thành lập trong hoàn cảnh nào
    của đất nước ?
    2) Ban biên tập và hình thức hoạt động của Tự Lực Văn
    Đoàn
    3) Chủ trương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn
    4) Thành tích và ảnh hưởng của nhóm T.L.V.Đ.
    5) Những khuyết điểm của Tự-Lực Văn-Đoàn
    V. TÌM HIỂU SƠ LƯỢC BA TẠP CHÍ ĐỒNG THỜI VỚI TỰ LỰC
    VĂN ĐOÀN : THANH NGHỊ – TRI TÂN – TAO ĐÀN
    A) Thanh nghị tạp chí
    1) Sự sáng lập
    2) Mục đích
    3) Ban biên tập
    4) Thành tích
    B) Tri Tân tạp chí
    1) Sự sáng lập
    2) Mục đích
    3) Ban biên tập
    4) Thành tích
    C) Tao đàn tạp chí
    1) Sự sáng lập
    2) Mục đích
    3) Ban biên tập
    4) Thành tích
    CHƯƠNG PHỤ LỤC : VĂN CHƯƠNG TlỀN-BÁN THẾ KỶ 20
    TẠI VIỆT-NAM
    I. VẤN ĐỀ THƠ MỚI

    A) Thái độ xét lại của các học giả văn nhân thi sĩ đối với
    vấn đề thi ca
    B) Sự phát triển của thơ mới từ tiệm tiến đến bột phát
    C) Bàn về thể cách Thơ Mới
    1) Số câu và số khổ trong bài
    2) Số chữ trong câu
    3) Cách hiệp vần
    4) Điệu thơ
    II. VẤN ĐỀ TIỂU THUYẾT
    A) Từ phôi thai tiến dần đến phát triển
    B) Bước vào thế kỷ 20, tiểu thuyết tiến đến thời thịnh
    hành
    1) Thời kỳ dịch thuật
    2) Thời kỳ sáng tác
    C) Truyện và tiểu thuyết khác nhau như thế nào ?
    1) Truyện là gì ?
    2) Truyện và tiểu thuyết khác nhau ở điểm nào và có gặp
    nhau không ?
    III. VẤN ĐỀ BÚT KÝ VÀ TÙY BÚT
    A) Bút ký là gì ?
    B) Tùy bút là gì ?
    C) Nguyễn Tuân và tùy bút
    IV. VẤN ĐỀ PHÓNG SỰ
    A) Phóng sự là gì ?
    B) Nội dung và hình thức của văn phóng sự
    1) Nội dung
    2) Hình thức

    C) Kỹ thuật xây dựng các thể văn phóng sự
    1) Tính cách báo chí
    2) Tính cách văn chương
    V. VÀI DÒNG VỀ CÁC TƯ TRÀO VĂN CHƯƠNG THẾ GIỚI
    TRONG KHOẢNG TIỀN BÁN THẾ KỶ 20
    A) Tính chất đại cương về các tư trào văn học thế giới
    B) Điểm qua các tư trào văn học trên thế giới.
    1) Khuynh hướng cổ điển
    2) Khuynh hướng lãng mạn Pháp, Đức và Anh
    3) Khuynh hướng tả thực
    4) Khuynh hướng tượng trưng và những giai đoạn suy
    đồi của nó
    KẾT LUẬN

    VŨ-HÂN
    GIÁO-SƯ VIỆT-VĂN
    BIÊN KHẢO

    VĂN-HỌC VIỆT-NAM
    Thế-kỷ XIX
    Tiền-bán thế-kỷ XX
    (1800-1945)
    Nhà sách KHAI-TRÍ
    62, Đại-lộ Lê-Lợi – SAIGON

    Kính dâng Hương hồn phụ thân,
    Người đã mở lòng tôi bằng dăm câu lục bát của Nguyễn-Du.

    LỜI NHẮN GỞI
    Quyển « Văn-học Việt-Nam thế-kỷ XIX, tiền-bán thế-kỷ
    XX » đây, lẽ dĩ nhiên không phải là một sáng-tác-phẩm mà
    nó chỉ là một tập sách biên khảo nho nhỏ để giúp cho các
    bạn học sinh nam-nữ xa gần có một ý-niệm tổng-quát về
    một giai đoạn lịch sử văn-học nước nhà : Giai đoạn từ thế-kỷ
    19 đến tiền-bán thế kỷ 20 (1802-1945), nghĩa là từ thời cực
    thịnh của văn Nôm đến khoảng vươn cao của văn chương
    Quốc-ngữ.
    Bởi vậy, sau khi biên khảo tập sách nhỏ này, Vũ-Hân tôi
    chỉ có 2 điều ước mong rất cụ-thể :
    Điều ước mong thứ nhất là cố-gắng làm sao cho tập sách
    nhỏ này được ra mắt bạn đọc bốn phương nhất là để nó được
    đến với các bạn học sinh nam nữ hiện tại ở bậc Trung-Học
    đệ-nhị-cấp, đang hằng ngày cắp sách đến trường hoặc đến
    với các bạn vì thiếu điều kiện đến trường mà phải ở nhà « tựhọc », hầu giúp cho họ có thêm chút ít tài liệu về văn chương
    đất nước trong khi tra khảo học tập làm bài hoặc soạn bài.
    Điều ước mong thứ hai là làm sao cho tập sách nhỏ này
    được các bạn Giáo-sư đồng-nghiệp khắp nơi chú ý đến để
    nếu có thể, được các bạn góp phần xây dựng thêm cho,
    nghĩa là Vũ-Hân tôi rất chân thành mong được các bạn góp
    thêm ý kiến hoặc chỉ giáo cho những điểm sai lệch và thiếu
    sót mà soạn giả không thể nào tránh khỏi trong khi biên
    soạn. Và đồng thời cũng rất mong quý bạn đồng nghiệp giới
    thiệu tập tài liệu nhỏ này với những học trò của quý bạn,

    khuyên họ nên xem tập sách này như là một phần nào về tài
    liệu văn chương Việt-Ngữ để họ có thể dùng đó mà soạn
    những bài giải đáp, những câu hỏi về giảng-văn cũng như về
    luận văn mà quý bạn sẽ ra cho họ.
    Tóm lại, nếu 2 điều ước mong trên được thực-hiện hoàn
    toàn thì kẻ « lược khảo » tập « Văn học Việt Nam thế kỷ XIX,
    tiền-bán thế kỷ XX » nầy lẽ tất nhiên sẽ vô cùng vui sướng.
    Tuy nhiên, trước khi kết thúc mấy dòng nhắn gởi trên đây,
    Vũ-Hân tôi xin nguyện mãi mãi ghi ơn các bậc thầy đã dầy
    công rèn luyện tôi về môn Việt-ngữ cách đây trên 20 năm đã
    gây cho tôi một ý thức sâu đậm về nền văn chương đất nước.
    Bên cạnh đó tôi cũng không bao giờ dám quên ơn các bậc
    học-giả, các vị giáo-sư đàn anh, vì nhờ những tài liệu về văn
    học rất uyên-thâm của quý-vị mà tôi đã hằng ngày nghiêncứu, tìm tòi học tập thêm để trong một thời gian « góp gió
    thành bão » mới có thể biên soạn ra được tập sách cỏn con
    này…
    Đến đây tôi không còn dám dài dòng nhắn gởi nữa, chỉ
    kính mong các thầy của tôi trước kia hiện còn sống hoặc đã
    quá vãng, mong các bậc học giả, các bậc giáo sư đàn anh
    thông cảm cho… và cuối cùng cũng rất mong các bạn họcsinh xa gần nên tìm đến với tôi, tìm để thông cảm tôi qua
    mấy chương sách nhỏ sắp bắt đầu lược trình kế tiếp theo
    đây…
    Đà-nẵng, đầu hè năm Đinh-Mùi (1967)
    Người soạn sách
    VŨ-HÂN

    CHƯƠNG MỞ ĐẦU : MỘT ÍT KHÁI-NIỆM
    VỀ 2 VẤN ĐỀ VĂN-HỌC VÀ VĂN-HỌC-SỬ
    I. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ DANH TỪ VĂN-HỌC
    A) Văn học là gì ?
    Đối với nền cổ học Trung Hoa, nhất là với học thuyết
    Khổng Mạnh, « văn » là vẻ đẹp (đầy màu sắc), điều hay
    (thâm thúy, cao xa). Bởi vậy « Văn học » là một trong tứ
    khoa mà các môn đệ Khổng Tử cần phải trau dồi mãi mãi :
    văn, hạnh, trung, tín. Cho nên ta có thể nói : « Hạnh, Trung,
    Tín » là thuộc phần tư cách đạo đức, còn « văn » thì thuộc về
    mặt trí tài. Do lẽ đó, kẻ nào thấu triệt quán xuyến về « văn »
    thì được thế nhân gọi là văn nhân thức giả.
    B) Quan niệm về văn học của người Trung Hoa
    trước kia
    Qua thời Dân Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) vấn đề văn
    học lại được quan niệm bằng hai cách khác nhau.
    1) Phái học giả vào thời kỳ đầu quan niệm rằng : Văn
    học tức là dùng văn tự ghi chép lại mọi tư tưởng, mọi lý luận,
    phép tắc, v.v… Bởi vậy, theo họ, văn tự học, bách gia chư tử
    triết học, sử học, lý học, v.v… đều được gọi là văn học.
    Quan niệm văn học của phái học giả này cũng có vẻ
    giống với quan niệm của các học giả về thời phong kiến là : «
    Trước ư trúc, bạch vị chi văn ; luận kỳ pháp thức vị chi văn
    học » (viết trên tre, lụa thì gọi là văn ; bàn đến phép tắc của

    nó thì gọi là văn học).
    2) Phái học giả về sau nầy vì chịu ảnh hưởng các tư trào
    Âu Mỹ nên lại quan niệm vấn đề văn học một cách có giới
    hạn hơn. Họ cho rằng chỉ những tác phẩm nào bao hàm ý vị
    nghệ thuật, nghĩa là chỉ chuyên tả tình cảm, tưởng tượng,
    phô bày cảm giác, cảm xúc mới được gọi là văn học. Như thế
    tự nhiên các loại sách về kinh học, triết học, lý học và ngay
    cả những danh tác cổ văn mang nặng các tư tưởng về vũ trụ,
    nhân sinh, đạo đức cũng bị xem như là không phải văn học.
    Tựu trung, theo phái sau nầy, chỉ có thi ca, từ phú, tân văn,
    tiểu thuyết, kịch tuồng, bút ký, v.v… mới được mệnh danh là
    văn học mà thôi.
    C) Quan niệm về văn học của người Việt-Nam ta
    ngày nay
    Ngày nay ở nước ta, ảnh hưởng từ trào Đông, Tây, kim cổ
    này ngày càng sâu rộng, quan niệm về 2 chữ văn học lẽ tất
    nhiên phải được mới mẻ và xác đáng hơn. Do đó môn quốc
    văn phải được đề cao và sẽ chiếm một địa vị quan trọng trên
    mọi ngành học thuật.
    Với một quan niệm mới mẻ và xác đáng như thế những
    yếu tố mà trước kia các học giả ta đã đặt nặng cho văn học
    như : học qui, khoa cử, từ chương, cú pháp, Hán văn, tam
    giáo (Nho, Thích, Lão), v.v… đều không phải là phần cốt yếu
    của văn học nữa.
    Mà phần cốt yếu của văn học, cái đối tượng chính của văn
    học Việt Nam là các sáng tác phẩm bằng quốc âm, tức là

    những áng danh tác bằng văn nôm trước kia hay bằng chữ
    quốc ngữ về sau nầy vậy. Ngoài ra, bao nhiêu kho tàng Hán
    văn quí báu của tiền nhân để lại đều không thể liệt nhập vào
    lĩnh vực của văn học Việt Nam được. Vì nền văn học một
    quốc gia, một dân tộc không thể xây dựng bằng văn tự nước
    ngoài. Cho nên cái kho tàng « Văn học Hán Việt » của ta vốn
    sẵn còn lại đó chỉ đáng xem như là những tài liệu quí giá để
    giúp ta soi sáng, hoặc đi sâu vào sự tìm hiểu các tác giả, các
    tác phẩm bằng văn nôm ngày trước hiện còn lưu lại mà thôi.
    Tóm lại, hai chữ văn học của ta ngày nay cần phải nhận
    định với 3 ý nghĩa dưới đây :
    1. Văn học của một quốc gia là toàn thể những công trình
    sáng tác về văn vần cũng như văn xuôi viết bằng tiếng mẹ đẻ
    của quốc gia ấy.
    2. Nó không chỉ những là thi ca, tiểu thuyết, kịch tuồng,
    ký sự mà còn phải bao quát tất cả công trình về triết lý, sử
    ký, khoa học xây dựng có nghệ thuật, có kiến trúc mỹ lệ gây
    được nhiều hứng thú văn chương tuyệt vời.
    3. Văn học còn có nghĩa là một khoa học, một khoa
    nghiên cứu về các tác phẩm văn chương mỹ lệ tuyệt vời nói
    trên.
    II. NHẬN ĐỊNH SƠ LƯỢC VỀ KHOA VĂN HỌC SỬ
    A) Văn học sử là gì ? Vài dòng nhận xét về văn học
    sử nước Tàu và nước Pháp
    Nói tóm một câu, văn học sử là lịch sử tổng quát về các

    thời đại văn học, tiểu sử các tác giả và sự nhận định giá trị về
    nội dung cùng hình thức các tác phẩm tiêu biểu nhất của họ.
    Bởi vậy nước nào có một nền văn học tương đối quy mô, tất
    nhiên nước ấy phải có văn học sử.
    Pháp có văn sử Pháp, Trung Hoa có Văn Học Trung Hoa,
    Việt Nam cũng có văn học sử Việt Nam và khoa chuyên
    nghiên cứu các nền văn học sử ấy gọi là khoa văn học sử.
    Ở Pháp, khoa văn học sử phát minh từ hơn một thế kỷ
    nay và dần dần tiến theo sự tiến bộ của sử học. Xưa kia,
    khoa văn học sử Pháp chỉ là những áng văn phê bình mang
    nặng tâm khí và thiên kiến của phê bình gia hơn là nói rõ về
    tác giả và tác phẩm. Nhưng vào đầu thế kỷ XIX các học giả
    mới chịu đổi mới lối phê bình cũ mà làm việc theo phương
    pháp khoa học, theo gương các sử gia chuyên tâm tìm tòi sự
    thực về giá trị tác phẩm, sự thực về cuộc đời tác giả, về hoàn
    cảnh xã hội mà họ đã hoặc đang sống, v.v… gạt bỏ chủ quan
    mỗi khi đem các văn kiện ra suy cứu và thẩm định. Do đó,
    môn phê bình văn học chính thức thành khoa văn học sử.
    Sainte-Beuve là nhà văn học sử đầu tiên đã có công xây đắp
    nền móng cho tòa lâu đài văn học sử Pháp.
    Ở Trung Hoa, nền văn học đã thành qui mô trên 3000
    năm, nhưng mãi cách đây trên nửa thế kỷ Lâm truyền Giáp,
    một giáo sư Đại học, mới viết tập « Trung quốc văn học sử ».
    Đó là quyển lịch sử văn học Trung Hoa đầu tiên chính thức
    xuất bản vào năm Tuyên Thống thứ hai. Từ đó, quan niệm
    người Tàu về Văn học sử càng ngày càng tiến triển theo tư
    trào Âu Mỹ… Cho nên qua thời kỳ dân quốc, khoa văn học sử
    càng nẩy nở phồn thịnh, kể đến nay đã có hơn 50 bộ văn học

    sử ra đời.
    B) Nhận xét sơ lược về Văn học sử Việt Nam và
    những công tác của cố giáo sư Dương Quảng Hàm cùng
    các học giả đương thời
    Trong công việc xây dựng nền văn học quốc gia, riêng ở
    Việt Nam ta môn Văn học Sử dần dần thành hình bắt đầu từ
    khoảng hạ bán thế kỷ 19 cho đến ngày nay.
    Từ hạ bán thế kỷ 19 nước ta bị đặt dưới quyền Pháp đô
    hộ, tức thì Pháp văn thay thế cho Hán văn. Nhờ đó, chữ quốc
    ngữ tự nhiên chiếm địa vị khả quan dần trong chương trình
    học mới.
    Thêm vào đó, qua sự trung gian của sách vở Pháp các tư
    trào Âu Tây rầm rộ du nhập vào đất nước ta… Lại còn những
    tân thư Trung quốc luôn luôn tìm cơ hội truyền sang, phong
    trào Nhật-Bản Duy tân từ bể Đông dội đến, rồi tin Nhật chiến
    thắng quân đội Nga Hoàng (1905) vang dậy khắp nơi… cũng
    thúc đẩy sĩ phu trí thức Việt Nam hăng hái biên khảo, sáng
    tác bằng tiếng Việt, gây cơ sở cụ thể cho nền quốc gia văn
    học sau nầy : tiếp đến, ở địa hạt sư phạm, môn Văn Học Sử
    Việt Nam được bắt đầu xây dựng nhờ công lao và thiện chí
    của 2 vị giáo sư tiên phong : Giáo sư G. Cordier và giáo sư
    Dương Quảng Hàm. Chính 2 vị nầy đã soạn thảo trước hết
    những khóa trình về Việt Văn và giới thiệu các tác phẩm Hán
    Việt cho các bạn trung học Pháp, Việt.
    Tuy nhiên, công trình của Dương Quảng Hàm mới thật là
    đáng kể. Ông Hàm là một vị giáo sư lão thành, tinh thông cả

    Tây lẫn Hán học, vừa chịu ảnh hưởng cổ truyền về văn học
    Đông Phương, vừa tiếp nhận các trào lưu tư tưởng cùng học
    thuật mới Tây Phương nhất là của Pháp… Do đó, làm sách
    Việt-văn, chép văn học sử Việt Nam, ông đã noi theo gương
    của các nhà văn học sử Pháp hồi đầu thế kỷ 20, nghĩa là ông
    thiên về sử nhiều hơn là thiên về văn chương bằng cách chỉ
    cố tâm sưu tầm văn liệu rồi dồn lại để phân trần, biện hộ,
    v.v… Trong khi biên soạn, ông lại còn quan niệm rằng văn
    học Việt-Nam phải gồm cả những tác phẩm vừa bằng Hán
    văn, vừa bằng văn Nôm hoặc bằng chữ Quốc ngữ do người
    Việt sáng tác. Thật giống với ngày nay, có một vài học giả
    cũng cho rằng các tác phẩm bằng Pháp văn của Văn Nhân
    nước Việt rất đáng được nằm trong kho tàng Văn học ViệtNam.
    Đồng thời với Dương Quảng Hàm, các học giả trong 2
    nhóm « Nam Phong tạp chí » và « Đông Dương tạp chí »
    cũng rất lưu tâm đến vấn đề tìm tòi biên khảo các văn liệu
    nước nhà. Nhưng các tài liệu văn học được các vị ấy cho đăng
    tải trên 2 tờ tạp chí đó vẫn còn trong phạm vi khảo luận eo
    hẹp, chưa lấy gì làm chắc chắn lắm.
    Bên cạnh các vị trong 2 nhóm tạp chí kể trên lại còn một
    số học giả gồm có các ông như : Lê Dư, Bùi Kỷ, Trần văn
    Giáp, Nguyễn văn Tố, Hoàng xuân Hãn, với một quan niệm
    rộng rãi hơn, đã dày công tìm lục những áng cổ văn để đưa
    ra đối chiếu, hiệu đính lại đích xác cho khỏi cái nạn « Tam
    sao, thất-bổn ». Thành tích cải tiến văn học này của các vị
    học giả vừa kể đều được cho in thành sách hoặc được thấy
    trong các mục thi văn cổ của những tập san, tạp chí như : Trí

    Tri, Khai Trí, Tiến Đức, Tri Tân, Thanh Nghị, v.v… Nhất là
    công trình hiệu đính biên khảo các văn liệu của 3 ông Giáp,
    Tố, Hãn, khả dĩ đáng tin cậy vì các vị nầy rất sẵn điều kiện
    quý báu để làm việc, sẵn kiến thức uyên thâm, kiên tâm lớn
    và phương pháp rất khách quan rất khoa học.
    C) Quan niệm của chúng ta đối với vấn đề Văn học
    sử
    Rồi từ sau những chính biến 1945 cho đến nay, quốc gia
    Việt Nam bắt đầu thoát ly ách ngoại thuộc, lẽ tất nhiên môn
    Việt Văn và khoa Văn học sử cần phải được quan niệm lại
    một cách rõ ràng và đúng đắn hơn để tỏ cho thế giới biết
    rằng dân tộc ta đã có một trình độ văn học rất có giá trị quốc
    tế. Bởi vậy, ngày nay chúng ta không nên ngộ nhận rằng văn
    học sử là một khoa hoàn toàn ghi chép những văn kiện dĩ
    vãng như sự ghi chép lịch sử, có bao nhiêu chép lại bấy
    nhiêu, không cần phân biệt cái nào là ngoại lai, cái nào là
    thuần túy của dân tộc. Trái lại chúng ta nên dứt khoát quan
    niệm rằng Văn học sử Việt Nam không thể nhận các di văn
    bằng chữ Hán trước kia hoặc bằng chữ Pháp sau nầy do
    người Việt sáng tác để làm sử liệu văn học. Sử liệu chính của
    nền Văn học Việt Nam phải là toàn thể những di văn, những
    sáng tác bằng tiếng Việt do người Việt ghi theo lối truyền
    khẩu, chép lại bằng văn nôm trước kia hoặc bằng chữ Quốc
    ngữ hiện thời.
    Tóm lại, Văn học sử là một cái nhìn bao quát vì văn học là
    cuộc sống, là tâm hồn có mật thiết liên quan đến thiên nhiên,
    thế hệ và xã hội của từng mỗi dân tộc trên thế giới từ xưa tới

    nay. Cho nên, khảo cứu văn học, chép văn học sử của một
    dân tộc tức là tìm hiểu sức sống của dân tộc ấy, theo dõi thời
    kỳ nó phát sinh, thời gian nó trưởng thành và biến hóa trên
    trường lịch sử về cả hai phương diện hình thức và nội dung.
    Xây dựng khoa Văn học sử Việt Nam cũng không ngoài
    các quan niệm và nguyên lý cùng nguyên tắc kể trên.

    CHƯƠNG THỨ I : ĐẠI CƯƠNG VĂN-HỌC
    VỀ THẾ-KỶ XIX Ở VIỆT-NAM
    I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ TINH THẦN CỦA NỀN VĂN
    HỌC THẾ KỶ XIX TẠI VIỆT NAM : VĂN HỌC NHÀ
    NGUYỄN
    Có thể nói thế kỷ thứ XIX ở Việt Nam là một thế kỷ rất
    quan trọng về lịch sử chính trị cũng như về lịch sử văn
    chương nhất là văn chương chữ nôm trong giai đoạn cực
    thịnh của nó mà chúng ta sắp thảo luận riêng dưới đây.
    Nhìn chung, do 3 phương diện chính trị, xã hội, kinh tế
    của thế kỷ thứ XIX tại nước ta biến chuyển quá mạnh nên
    nền văn học sản phẩm của 3 điểm vừa nói đó chiếm một địa
    vị vô cùng quan trọng để phản ảnh một cách trung thực hiện
    trạng của xã hội Việt Nam trong thời đại bấy giờ.
    Nhìn sâu hơn nữa về phương diện khác nền văn học của
    thế kỷ XIX ở Việt Nam sở dĩ được chói lọi là nhờ ngọn đuốc
    chữ nôm rực rỡ chói sáng. Văn chương chữ nôm của thế kỷ
    XIX đã bước vào thời kỳ thứ 3 của nó, thời toàn thịnh. Nó
    toàn thịnh trong phong phú về nội dung lẫn hình thức. Đã thế
    mà ngọn đuốc văn học « nôm na » này lại được một số đông
    thiên tài nêu cao ngày càng chói lọi trong toàn một thế kỷ để
    xây dựng vô số sáng tác mà những kiệt phẩm đâu phải là
    hiếm hoi gì… Ta có thể tự hào rằng văn chương thế kỷ thứ
    XIX nhất là văn nôm ở nước ta đã gây được một mối thống
    nhất về phẩm cũng như về lượng mà từ Nguyễn Du đến Trần
    Tế Xương trên dưới đến 30 vị lừng danh đã góp sức vào. Và

    mặc dù thời đại làm cho họ có những tình cảm và khuynh
    hướng khác nhau, năng khiếu gây cho họ có những hình thức
    văn loại khác nhau, nhưng họ, từ Nguyễn Du đến Trần Tế
    Xương là cả một quần tinh xán lạn trên nền trời văn học nước
    nhà dưới thế kỷ XIX. Có thể nói với « Đoạn Trường Tân
    Thanh », với những nụ cười châm biếm, Nguyễn Du và Trần
    Tế Xương đã mở và đóng cái kỷ nguyên văn học nầy. Mà cái
    kỷ nguyên văn học nầy, soạn giả của bất cứ bộ văn học sử
    nào cũng đều trịnh trọng mệnh danh là « nền văn chương
    triều Nguyễn ».
    II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC THẾ KỶ XIX
    TẠI VIỆT-NAM
    A) Nhà Nguyễn thống nhất sơn hà vào đầu thế kỷ
    XIX và cục diện Âu Châu lúc bấy giờ
    Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi khai sáng triều Nguyễn
    và đem lại cho bề ngoài của quốc gia một vẻ thống nhất và
    thái bình, sau 200 năm nội chiến. Bộ mặt thống nhất và thái
    bình nầy hiện ra trên đất nước có thể kể từ đời Gia Long cho
    đến giữa triều Nguyễn vua Tự-Đức là thời sơ diệp nhà
    Nguyễn, vào khoảng tiền bán thế kỷ XIX. Trong khi ấy, khoa
    học Tây phương tiến bộ mạnh, làm thay đổi cả cục diện hoàn
    cầu. Nhờ sự tiến bộ của khoa học, nhất là khoa học cơ khí,
    phương tiện giao thông được canh tân vượt mức. Với những
    tàu bè chạy bằng động cơ, nhanh chóng và tiện lợi, người các
    nước Tây phương thi nhau đi khắp thế giới tìm kiếm thị
    trường và chiếm lĩnh vực thuộc địa để bành trướng thế lực.

    Trước tình thế mới ấy, vua quan nhà Nguyễn vẫn khư khư
    giữ chính sách nội trị ngoại giao cũ và phép học phép thi theo
    lề lối xưa.
    Đó là nguyên do tất cả các việc quan trọng đã xảy ra
    trong lịch sử Việt-Nam về thời đại cận kim mà kết quả là cuộc
    đô hộ của người Pháp.
    Để hiểu rõ tình trạng văn học nước ta trong hoàn cảnh
    lịch sử ấy, ta cần xét qua về chính sách nội trị cùng ngoại
    giao và học quy dưới triều Nguyễn, trong các đời vua MinhMệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (18481883) như sau :
    B) Xã hội và chính sách nội trị cùng ngoại giao của
    nhà Nguyễn
    1. Xã hội và nội trị
    Triều đình nhà Nguyễn theo chính sách thủ cựu. Toàn dân
    chia làm 4 hạng : sĩ, nông, công, thương. Đứng đầu là sĩ tức
    là phái nhà nho, theo giáo lý Khổng Mạnh, trọng luân thường
    đạo nghĩa, giữ trật-tự tôn ti. Những người giúp vua trị nước
    được tuyển lựa trong hạng này. Nhưng phần nhiều kẻ sĩ hồi
    đó thường câu nệ, cố chấp, nặng đầu óc bảo thủ, thiếu sáng
    kiến, phát minh chuộng văn chương, khinh thực nghiệp nên
    kiến thức hẹp hòi, không nghĩ xa trông rộng. Thứ là nông tức
    đa số thường dân cổ cày vai bừa, dẻo dai chịu đựng, nhưng
    chỉ biết quyến luyến quê hương với lề lối làm việc cổ lỗ thô sơ
    cùng những tập tục phần nhiều lạc hậu. Còn 2 hạng công và
    thương có thể gọi là không đáng kể, vì công nghệ, chỉ là

    những thủ công nghệ thô sơ truyền lại từ bao đời mà không
    hề được cải tiến ; còn thương mại thì dĩ nhiên không được
    phát đại trong một xã hội « dĩ nông vi bản » như xã hội ta
    thời bấy giờ.
    Trước tình thế mới, cách tổ chức xã hội ta thời bấy giờ
    quá xưa và quá đơn giản ấy dĩ nhiên là không hợp thời. Thế
    mà vua quan, sĩ thứ nước ta thời ấy vẫn u mê không hay biết
    gì. Vua và triều đình vẫn cứ giữ lề lối cũ, việc nội trị rập theo
    đúng khuôn mẫu Trung Hoa không hề nghĩ đến sự canh tân,
    nên nước yếu dân nghèo, nghiễm nhiên tự liệt vào hàng quốc
    gia chậm tiến.
    2. Về ngoại giao
    Vì chủ trương « Bế môn tỏa cảng » đóng cửa không giao
    thiệp với người nước ngoài. Vì có chủ trương hẹp hòi ấy, nên
    vua và triều đình hồi đó nhất quyết không cho người ngoại
    quốc vào thông thương (nhiều lần các nước Anh, Pháp sai sứ
    sang xin giao hảo và ký thương ước đều bị cự tuyệt), một
    mặt cấm các giáo sĩ người Âu truyền đạo thiên chúa, cho là
    họ đem truyền những tà thuyết trái với chế độ phong tục
    nước ta.
    C) Học qui và thi cử dưới đời nhà Nguyễn
    Chính sách nội trị ngoại giao đã có nhiều khuyết điểm,
    việc học hành thi cử cũng không hơn gì ! Sĩ phu chỉ nhai đi
    nhai lại mấy bộ tứ thư, ngũ kinh, bắc sử… mài miệt lối văn cử
    nghiệp, trích cú tầm chương, quá chuộng hư văn mà xao lãng
    cái học thực dụng, truyện cổ nước Tàu thì đọc vanh vách mà

    việc mới năm châu thì mù mịt không hay.
    Cách tổ chức việc học việc thi dưới triều nhà Nguyễn vẫn
    là những phép tắc cũ, phỏng theo quy củ đời Hậu Lê.
    Về việc học : Toàn quốc chỉ có một trường lớn là Quốc
    Tử Giám ở kinh đô. Ở các tỉnh, huyện thì có các chức đốc
    học, huấn đạo, giáo thụ. Còn bực tiểu học quan trọng nhất
    thì chính quyền lại không lưu tâm đến và phó mặc tư nhân
    (các ông đồ) đảm nhiệm.
    Về việc thi : cũng vẫn có hai khoa chính là thi hương và
    thi hội (3 năm 1 lần) và chương trình thì cũng vẫn có thơ
    phú, kinh nghĩa, văn sách, tứ lục.
    Tuy vậy, nếu kể về phương diện sáng tác trong lĩnh vực
    văn Nôm thì nền văn học nhà Nguyễn có những đặc điểm rất
    đáng kể trong hai giai đoạn tiền và hậu bán thế kỷ của nền
    văn học đó mà chúng ta cần đem phân đoạn và tìm hiểu dưới
    đây :
    III. PHÂN ĐOẠN LỊCH SỬ VĂN HỌC NHÀ NGUYỄN
    Ta cũng có thể chia lịch sử văn chương Việt Nam của thế
    kỷ XIX ra làm 3 thời kỳ như giáo sư Dương Quảng Hàm đã
    phân đoạn trong bộ « Việt Nam văn học sử yếu » của ông :
    1) Thời Nguyễn sơ.
    2) Thời kỳ tiền Pháp xâm.
    3) Thời kỳ hậu Pháp xâm.
    Nhưng phân đoạn như thế e rằng thiếu sự cân đối giữa 3
    thời kỳ vì trong giai đoạn Nguyễn sơ rất ít sự kiện văn

    chương đáng ghi chú. Vậy theo ý kiến hữu lý của một số học
    giả, ta thử chia văn chương thế kỷ thứ XIX ở Việt Nam ra làm
    2 thời kỳ song song với hai thời bình, loạn của lịch sử chính
    trị và xã hội ở nước ta về thế kỷ đó.
    Chia như thế là cốt dựa vào hai tính chất bình, loạn của
    lịch sử ấy để dễ nhận định tư tưởng và khuynh hướng của các
    văn thi gia. Chứ thật ra ở Việt Nam, nhất là ở Á Đông, văn
    chương khó phân được thời đoạn rành mạch.
    A) Văn chương tiền bán thế kỷ mười chín (XIX)
    Như đã nói ở phần bối cảnh lịch sử chung về văn chương
    của thế kỷ XIX, giai đoạn tiền bán thế kỷ này là 1 thời kỳ lịch
    sử tương đối có được cảnh thái bình trên toàn cõi đất nước.
    Cảnh tượng khả dĩ thái bình nầy có thể kể từ năm vua Gia
    Long lên ngôi đến nửa triều Tự Đức tức là từ năm 1802 đến
    độ 50 năm kế tiếp.
    Tuy nhiên, người ta cũng không quên trong thời kỳ thái
    bình đó. Những cuộc bạo động và biến loạn liên tiếp xảy ra
    dưới thời Minh Mạng và Tự Đức. Vua Gia Long lên ngôi ; sơn
    hà được thống nhất, triều đình được tổ chức kỷ cương, đối với
    các sĩ phu cựu thần của Lê triều, nhà vua có một thái độ
    khôn khéo. Rồi Minh Mệnh, Thiệu Trị, và Tự Đức lần lượt kế
    vị, nội chính liên tục củng cố, ngoại giao vẫn giữ một chính
    sách cổ truyền.
    Rồi biến loạn và bạo động liên tiếp xảy ra trong nước làm
    cho quan quân mà nhất là cụ Nguyễn Công Trứ thêm hào
    hứng trên đường đi lập công và cùng làm cho các sĩ phu ngày

    đêm hô hào dân chúng phải giữ đạo tôi con, hiếu trung khắc
    cốt. Tất cả những sự kiện lịch sử ấy đã gây cho thời kỳ tiền
    bán thế kỷ XIX một nền văn chương cổ điển cực thịnh. Nhưng
    trong cái khung văn chương cổ điển quy mô như triều cương
    và nội chính của thời sơ Nguyễn, tình cảm và bản ngã của
    văn nhân thi sĩ vẫn được bộc lộ rõ ràng qua từng giai đoạn
    của thời kỳ.
    Bó thân về với triều đình,
    Hàng thần lơ láo phận mình ra sao ?
    Hay là : Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
    Đền cũ lâu đài bóng tịch dương.
    Hoặc : Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, v.v…
    Và : Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
    Trơ cái hồng nhan với nước non.
    Cuối cùng những câu như :
    Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
    Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
    Hay là : Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa
    Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu
    Thờ cha sớm viếng khuya hầu.
    Hoặc : Nhà dột vài ba gian, một thầy, một cô, một chó
    cái,
    Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười
    ươi.
    Tất cả những câu thơ dẫn chứng trên phải chăng đã nói
    lên được phần nào tình cảm và bản ngã của các tác giả cổ

    điển trong giai đoạn tiền bán thế kỷ XIX, giai đoạn nhà
    Nguyễn bề ngoài tương đối còn tỏ vẻ thanh bình và có nhiều
    uy lực ?
    B) Văn chương hậu-bán thế kỷ XIX
    Hết tương đối yên tĩnh đến triệt để rối ren, hậu bán thế
    kỷ XIX là một thời mà nước ta lâm vào thế tao loạn. Bên
    trong, suốt nửa đời Tự Đức kể về sau, giặc giã nổi lên. Bên
    ngoài chính sách « đóng ải, tỏa bến » của triều đình gây ra
    cuộc tranh chấp với Tây phương. Rồi từ hòa ước nầy đến hòa
    ước nọ, nước ta mất trọn chủ quyền vào tay đế quốc Pháp. Sĩ
    phu cùng với nhân dân tìm mọi cách chống lại kẻ xâm lược.
    Đây, đó lòe lên những ngọn lửa Cần Vương. Rồi phong trào
    xuất dương sôi nổi vì người ta tin rằng biết đâu vấn đề du
    học ngoại quốc sẽ có nhiều hiệu lực như vấn đề cầu cứu
    ngoại viện để thu phục lại sơn hà. Thời thế đó đẩy Nho học
    đến chỗ suy tàn. Văn hóa Âu Tây được dịp xâm nhập vào bờ
    cõi nước ta cuồn cuộn như làn sóng mạnh.
    Nước ta tiếp nhận một cách vừa lạ lùng, ngơ ngác vừa
    phục thiện và thích thú cả một kỷ nguyên cơ khí dựng trên
    nền kinh tế tư bản. Thế là khuôn thước tư tưởng nghìn xưa
    lại bị sụp đổ, trật tự xã hội cũ của nước ta lúc bấy giờ bị các
    tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, cá nhân chủ nghĩa, duy lý
    chủ nghĩa, từ bên ngoài ùa vào xáo trộn, trật tự xã hội,
    khuôn vàng thước ngọc của Khổng Mạnh bị sứt mẻ, lẽ tất
    nhiên nền văn chương từng khuôn rập với tư tưởng cũ và xã
    hội cũ phải đổi lối thay bình. Thế nghĩa là nền văn chương cổ
    điển của thời tiền bán thế kỷ 19 qua thời hậu bán thế kỷ 19

    tao loạn nầy tự nhiên phải biến chứng rồi tan rã.
    Nếu không, tại sao một Tự Đức đang đạo đức và nghiêm
    trang bỗng trở nên ủy mị và có vẻ lãng mạn trước cái chết
    của Thị Bằng, một người Ái phi của ngài :
    Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,
    Xếp tàn y lại để dành hơi…
    Rồi từ Tự Đức mê si đến Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê,
    Dương Lâm đa tình, bay bướm và ưa thích hòa mình trong
    khoái lạc : « Cho hay danh sĩ với giai nhân, cùng một kiếp
    hoa nghiêm nặng nợ… ngán nỗi non xanh, đất đỏ, để riêng ai
    lưu lạc, đau lòng ». (Chu-Mạnh-Trinh – Tựa Truyện Kiều).
    Hoặc :
    Thôi đừng mang lão lệ với đàn tranh
    Kìa kỹ nữ cũng thương sinh đâu đấy nhỉ ?
    Mảnh ti trúc ai là tri kỷ
    Ngón tỳ bà năn nỉ với ai đây ?
    (Dương Lâm)
    Tuy nhiên cũng có một số văn nhân thi sĩ rất đa tình,
    nhưng không đa tình trong trăng, hoa, đàn...
     
    Gửi ý kiến

    Nhúng mã HTML